Hương Sen Xứ Nghệ

Hương Sen Xứ Nghệ Tỏa Ngát Đất Trời
Thiền Sư Thích Nhất Hạnh nói về cách ngồi thiền

Thiền Sư Thích Nhất Hạnh nói về cách ngồi thiền

Đăng lúc: 09:04 - 30/08/2016

Bạn nên dành riêng một căn phòng, một góc nhà hay đơn giản là một chiếc đệm để ngồi thiền.


Âm thanh của chuông là một cách tuyệt vời để bạn bắt đầu thiền định. Nếu không có chuông, bạn có thể tải về một bản ghi âm tiếng chuông vào điện thoại hoặc máy tính của bạn để sử dụng khi thiền định.

Khi ngồi thiền, hãy giữ cho cột sống của bạn thẳng, trong khi cho phép cơ thể của bạn được thoải mái. Thư giãn các cơ trong cơ thể, bao gồm cả các cơ mặt của bạn. Hãy cười nhẹ một cách tự nhiên. Nụ cười có tác dụng thư giãn tất cả các cơ trên khuôn mặt của bạn.

Hãy chú ý hơi thở của bạn. Khi bạn hít vào, hãy ý thức rằng bạn đang hít vào. Khi bạn thở ra, hãy ý thức rằng bạn đang thở ra. Khi chúng ta chú ý đến hơi thở thì cơ thể, hơi thở và tâm trí chúng ta kết hợp lại làm một. Việc hít vào đem đến cho bạn niềm vui; việc thở ra mang lại cho bạn sự bình tĩnh và thư giãn. Đó là một lý do tuyệt vời để ta tĩnh toạ (ngồi thiền) phải không?

Khi bạn thở trong chánh niệm và vui vẻ, đừng bận tâm lo lắng về tư thế ngồi của bạn trông đẹp hay xấu. Hãy ngồi theo cách mà bạn cảm thấy tốt nhất để đạt được sự thoải mái và chánh niệm.

Thật là tuyệt vời khi có được một nơi yên tĩnh để ngồi thiền tại nhà hoặc tại nơi làm việc của bạn. Nếu bạn có một tấm đệm phù hợp, bạn có thể ngồi thiền trong một thời gian dài mà không cảm thấy mệt mỏi. Bạn có thể thực hành ngồi thiền ở bất cứ nơi nào mà bạn nghĩ là phù hợp. Nếu bạn đi làm bằng xe buýt hoặc xe lửa, hãy sử dụng thời gian của bạn để nuôi dưỡng tâm hồn và hồi phục sức khỏe.

Ngồi thiền thường xuyên sẽ trở thành một thói quen tốt. Ngay cả Đức Phật sau khi giác ngộ vẫn thực hành thiền định mỗi ngày. Hãy xem việc thiền hàng ngày như một loại thức ăn tinh thần. Đừng tước đi quyền lợi của mình và của cả thế giới.



Phỏng theo nội dung quyển "Cách Ngồi Thiền” của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh © 2014 Giáo hội Phật giáo. In lại với sự cho phép của nhà xuất bản Parallax Press.

Theo LION'S ROAR

Việt dịch: An Nhiên

HT. Thích Nhất Hạnh

Trà xanh có thể ngăn ngừa chứng vỡ động mạch chủ gây chết người

Trà xanh có thể ngăn ngừa chứng vỡ động mạch chủ gây chết người

Đăng lúc: 09:02 - 30/08/2016

Một nghiên cứu gần đây đã chỉ ra một loạt các lợi ích sức khỏe từ việc uống trà xanh, bao gồm giúp phòng chống ung thư, bệnh tim mạch, viêm và oxy hóa (oxy hóa gây ra các loại bệnh và nhiều tác hại trên cơ thể).


Sau đây là một lợi ích của trà xanh bạn không thể bỏ qua. Uống trà xanh có thể giúp ngăn chặn tình trạng động mạch chính của cơ thể trở nên căng thẳng và sưng phồng, một chứng bệnh rất nguy hiểm, một nghiên cứu mới đây đã cho biết.

Các nhà nghiên cứu tại Đại học Kyoto ở Nhật Bản nhận thấy chứng phình động mạch chủ bụng ít phát triển ở những con chuột được cho uống chất polyphenol, một thành phần chính của trà xanh.

Nếu không điều trị, chứng phình động mạch chủ bụng cuối cùng bị vỡ và gây tử vong, các nhà nghiên cứu cho biết. “chứng phình động mạch chủ bụng thường không được chú ý bởi vì chúng không có triệu chứng cho đến khi cơn bệnh bộc phát”, Kenji Minakata, tác giả của nghiên cứu cho biết.

“Nếu một bệnh nhân may mắn thì chỗ động mạch bị sưng phồng sẽ được tìm thấy trước khi vỡ. Các bác sỹ sẽ điều trị bằng cách phẫu thuật và cấy một mạch máu nhân tạo hoặc đặt stent để nong động mạch. Hiện nay, chứng bệnh này chưa có thuốc chữa,” Minakata nói.

Nghiên cứu gần đây đã chỉ ra một loạt các lợi ích sức khỏe từ việc uống trà xanh, bao gồm cả việc giúp cơ thể chống ung thư, bệnh tim mạch, viêm và oxy hóa (oxy hóa gây ra các loại bệnh và nhiều tác hại trên cơ thể). “Gần đây, người ta khám phá ra chất polyphenol có trong trà xanh giúp cơ thể tái tạo elastin, một protein thiết yếu giúp các động mạch có độ đàn hồi tốt”, tác giả chính Shuji Setozaki nói.

“Chứng phình động mạch bụng là do tình trạng viêm và sự suy giảm chất elastin trong thành động mạch khiến chúng kém đàn hồi, chúng tôi cho rằng uống trà xanh sẽ rất tốt cho việc điều trị chứng bệnh này,” Setozaki nói.

Theo PTI Tokyo

Việt dịch: Hoa Nắng

BBT Website

Chiêm ngưỡng 5 tu viện Phật giáo đẹp nhất châu Á

Chiêm ngưỡng 5 tu viện Phật giáo đẹp nhất châu Á

Đăng lúc: 15:33 - 06/06/2016

Không chỉ là địa danh tôn giáo, những tu viện dưới đây còn là những kiệt tác kiến trúc đẹp nhất châu Á.

5. Tu viện Taung Kalat, Myanmar
Chiem nguong 5 tu vien Phat giao dep nhat chau A
Du khách phải đi chân trần vượt qua 777 bậc thang để lên đến tu viện trên đỉnh núi.
Tu viện Taung Kalat nằm trên đỉnh núi Popa - một ngọn núi lửa đã tắt với chiều cao 1.500m so với mực nước biển. Muốn lên tới tu viện trên đỉnh núi, bạn được yêu cầu phải bỏ vớ và giày để đi chân trần vượt qua 777 bậc thang. Bạn cũng có thể bắt gặp rất nhiều khỉ trên đường đi và nên giữ hành lý cũng như đồ ăn cẩn thận để tránh bị chúng giật mất.
4. Tu viện Phugta Gompa, Ấn Độ
Chiem nguong 5 tu vien Phat giao dep nhat chau A-Hinh-2
Tu viện Phugta Gompa được xây dựng hoàn toàn bằng gạch, bùn, đá và gỗ.
Tu viện Phugta Gompa nằm ẩn mình trên hẻm núi cao 3.800m ở khu Đông Nam Zanska thuộc dãy núi Himalaya. Đây là nơi ở của khoảng 70 tu sĩ với cấu trúc đặc biệt, được xây dựng từ thế kỷ XII bởi Lama Gangsem Sherap Sampo. Điều đáng kinh ngạc là dù được xây dựng bằng gạch, bùn, đá và gỗ, tu viện này vẫn tồn tại hàng trăm năm qua.
3. Tu viện Ki, Ấn Độ
Chiem nguong 5 tu vien Phat giao dep nhat chau A-Hinh-3
Đây là nơi đào tạo 300 Lạt Ma của Phật giáo Tây Tạng.
Tu viện Ki (đánh vần là Ki, Key hoặc Kee) nằm trong ngôi làng Ki thuộc dãy núi Himalaya. Tu viện Phật giáo Tây Tạng này nằm trên đỉnh của một ngọn đồi cao 4.166m so với mực nước biển, nhìn xuống thung lũng Spiti. Nó là trung tâm đào tạo tôn giáo cho Lạt Ma và từng chứng kiến nhiều cuộc tấn công của quân Mông Cổ và nhiều quân đội khác.
2. Tu viện Paro Taktsang, Bhutan
Chiem nguong 5 tu vien Phat giao dep nhat chau A-Hinh-4
Tương truyền Guru Rinpoche đã cưỡi hổ bay lên vách đá Paro để ngồi thiền suốt ba năm, ba tháng, ba ngày và ba giờ liên tục ở 13 hang động.
Paro Taktsang hay còn gọi là tu viện Hang Hổ nằm chênh vênh bên một vách đá 3.000m ở thung lũng Paro thuộc dãy Himalaya. Theo truyền thuyết, Guru Rinpoche, người được coi là đức Phật thứ hai, đã đến vách đá này bằng cách cưỡi trên lưng một con hổ rồi ngồi thiền định trong các hang động. Tu viện này được xây dựng từ năm 1692 và được trùng tu vào năm 1998. Nơi đây có những khóa tu rất nghiêm ngặt và cách duy nhất để đến đây là đi bộ hoặc cưỡi la.
1. Tu viện Thiksey, Ấn Độ
Chiem nguong 5 tu vien Phat giao dep nhat chau A-Hinh-5
Tu viện Thiksey có kiến trúc rất giống cung điện Potala ở Lhasa.
Là tu viện lớn thứ hai ở bang Ladakh (Ấn Độ), Thiksey gây chú ý bởi nó nằm biệt lập trên một ngọn đồi, bao quanh là hoang mạc cát khổng lồ. Nó bao gồm nhiều tòa nhà có tứ tự cao dần. Một số người liên tưởng nó giống một thị trấn nhỏ màu trắng như trong cổ tích. Đây là một điểm tham quan yêu thích của khách du lịch, nhiều người đánh giá là tu viện đẹp nhất trong khu vực. Một trong những điểm cao nhất ở đây là chùa Di Lặc, trong đó có một bức tượng Phật Di Lặc cao 15m. Nó được xây dựng để kỷ niệm chuyến thăm của Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 vào năm 1970, và mất 4 năm mới hoàn thành.
Mai Hạ (Theo Detechter)

Trao đổi về bài: Sau khi chết xác thân chỉ là “Đất"

Trao đổi về bài: Sau khi chết xác thân chỉ là “Đất"

Đăng lúc: 22:04 - 17/12/2015

Ông bà tổ tiên sau khi chết thì tùy nghiệp tái sinh vào lục đạo, các vị ấy không ở trên bàn thờ...

HỎI: Tôi không đồng ý với câu trả lời của Tổ Tư vấn (TTV) về bài Sau khi chết xác thân chỉ là “đất”, đăng trên Giác Ngộ số 822, với 2 vấn đề dưới đây:

1. Còn việc bạn “mơ thấy cha hiện về, ông có điều gì đó phản ứng rất dữ dội” chỉ là biểu hiện của chính tâm thức bạn. Vì bạn suy nghĩ quá nhiều về điều ấy nên tâm bạn tự “nhào nặn” thành giấc mơ, hoàn toàn không phải là cha của bạn về báo mộng hay chưa tái sinh. Xin hỏi TTV dựa vào đâu mà phát biểu như vậy? Nếu đó chỉ là suy luận thì tôi nghĩ là không nên, vì từ suy luận đến thực tế khác xa lắm. Hơn nữa giác quan và tri thức của con người rất hữu hạn so với thực tại của vũ trụ.

2. Kinh Phật dạy rằng, một người chết đi lập tức tái sanh nếu sinh thời tạo nghiệp cực thiện hoặc cực ác. Còn nếu tạo nghiệp thiện ác lẫn lộn có thể trải qua thân trung gian, tối đa 49 ngày là tái sinh. Cha của bạn mất đã 29 năm, dĩ nhiên đã theo nghiệp tái sinh, không hề có chuyện “ông vẫn còn tham dự vào chuyện gia đình”. Vậy thì cúng Mông Sơn thí thực là để làm gì? Có phải vì lòng từ bi của nhà Phật mà đem thức ăn cho những chúng sanh đang đói khát hay không? Theo tôi biết, những chúng sanh đang đói khát đó chính là những người đã chết mà họ không đủ duyên để đi đầu thai. Trong kinh sách nhà Phật cũng nói rất nhiều về điều này. Thiết nghĩ, TTV nên trả lời những gì mình biết chứ không nên tùy tiện suy diễn.

(QUỲNH, quynhuyenvo@gmail.com)


Ảnh minh họa

ĐÁP: Bạn Quỳnh thân mến!

Trước hết, chúng tôi xin chân thành tri ân sự phản hồi của bạn. Trong quá trình học tập giáo pháp, sự thành tâm trao đổi, luận bàn có vai trò rất quan trọng giúp chúng ta soi sáng lẫn nhau để tin hiểu Chánh pháp sâu sắc hơn.

Vấn đề 1, bạn hỏi, dựa vào đâu mà phát biểu như vậy? Xin trả lời, chúng tôi đã dựa vào Chánh pháp. Theo một số kinh, luận (A-tỳ-đàm), cái gọi là giấc mơ hay chiêm bao có thể được tạo ra do nhiều nguyên nhân: Một giấc mơ có thể hình thành do những tác động sinh lý trong cơ thể, do sự tồn đọng của những hồi ức lúc thức, do sự tác động của một ngoại nhân có thần lực, hoặc chiêm bao cũng có thể là một điềm báo được tạo ra do sự chiêu cảm của nghiệp lực cá nhân hay tập thể.

Nói chung, hầu hết các giấc mơ đều là sản phẩm của tâm thức, là biểu hiện của chính tâm thức chúng ta. Tất cả các ý niệm, nhận thức, kinh nghiệm… của con người được lưu trữ trong tâm (tàng thức), tùy theo nhân duyên và hoàn cảnh mà biểu hiện thành những giấc mơ với nội dung khác nhau.

Chúng tôi tán đồng nhận định “giác quan và tri thức của con người rất hữu hạn so với thực tại của vũ trụ” của bạn, nhưng tin vào báo mộng của người chết là chuyện hoàn toàn khác. Chúng tôi không suy luận hay suy diễn mà hiểu rõ, giáo lý của đạo Phật không chủ trương tin vào báo mộng của người chết.

Nói rõ hơn, báo mộng là tín niệm dân gian. Tín niệm này vốn ăn sâu vào nhận thức của nhiều người ở khắp nơi trên thế giới. Tin vào báo mộng của người chết hay không là quyền của mỗi người, nhưng dưới ánh sáng chánh kiến của Phật giáo, mộng mị vốn là huyễn, không thực. Vì thế, Đức Phật không khuyến khích học tập các dị thuật như chiêm tinh, đoán mộng v.v…, thậm chí còn ngăn cấm.

Vấn đề 2, bạn hỏi, vậy cúng Mông Sơn thí thực để làm gì? Xin trả lời, cúng Mông Sơn thí thực nhằm bố thí thức ăn cho loài Ngạ quỷ đói khát được no đủ. Kinh điển nhà Phật nói rõ các chúng sanh trong lục đạo (thuộc Dục giới) bao gồm: Trời, người, a-tu-la, súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục. Những chúng sinh nào tập nghiệp tham lam, bỏn sẻn nặng nề sau khi chết sẽ tái sinh (đầu thai) vào loài Ngạ quỷ.

Cần xác định “những chúng sanh đang đói khát” ấy chính là loài Ngạ quỷ, một số ít khác thuộc chúng quỷ thần, chứ không phải là “những người chết mà họ không đủ duyên để đi đầu thai”.

Cụ thể hơn, Phật giáo Nam truyền không chủ trương có thân trung ấm, chết là tái sinh tức khắc. Phật giáo Bắc truyền chủ trương con người chết đi có thọ thân trung ấm, trong thời gian thọ thân trung ấm vẫn có thể thọ dụng thực phẩm (mùi hương) do người thân hiến cúng, nhưng tối đa khoảng 49 ngày là tái sinh. Phật giáo Tạng truyền (Mật tông Tây Tạng) cho biết, một số rất ít các thân trung ấm có thể kéo dài hơn 49 ngày, nhưng đó là những trường hợp cá biệt.

Vì vậy, chúng ta thờ cúng ông bà tổ tiên nhằm thể hiện lòng hiếu kính và tri ân. Ông bà tổ tiên sau khi chết thì tùy nghiệp tái sinh vào lục đạo, các vị ấy không ở trên bàn thờ, và do nghiệp duyên nơi loài mà các vị ấy đã tái sinh vào cũng khác biệt nên không dễ hội đủ nhân duyên để can thiệp vào đời sống của chúng ta.

Mặt khác, không nên xem loài Ngạ quỷ (đã đầu thai), phần lớn cộng cư với loài người, thường được loài người cúng thí thực phẩm là “những người chết mà họ không đủ duyên để đi đầu thai”.

Chúc bạn tinh tấn!

TỔ TƯ VẤN

Tìm thấy tranh Bồ-tát Quán Thế Âm thuộc thế kỷ 16

Tìm thấy tranh Bồ-tát Quán Thế Âm thuộc thế kỷ 16

Đăng lúc: 10:51 - 01/12/2015

Đức Quán Thế Âm Bồ-tát đang ngồi bắt chéo chân trên một hoa sen với một ấn tượng đức hạnh và dịu dàng. Đôi mắt từ bi của Ngài đang hướng về Thiện Tài Đồng Tử đang cung kính chắp tay.

Trong lúc Bồ-tát đang thuyết pháp cho nhà sư trẻ, thần Karttikeya mạnh mẽ đang bảo vệ Ngài. Một đóa sen vàng nở từ mặt nước và một con chim trên bầu trời đang ngậm một bông hoa trong miệng làm tăng thêm vẻ đẹp cho bức tranh.

vch 1.jpg
Bức tranh này, gần đây đã được tìm thấy ở Nhật Bản, được cho là đã được vẽ tại Hàn Quốc vào giữa thế kỷ 16 trong triều đại Joseon (ảnh).

Có 4 bức tranh Quán Thế Âm Bồ-tát như thế này được vẽ trong triều đại trên đã được tìm thấy cho đến nay.

Bức tranh vừa mới tìm thấy này là duy nhất trong số 4 bức miêu tả Bồ-tát trong tư thế chân bắt chéo.

Bồ-tát Quán Thế Âm trong các bức tranh vẽ trong triều đại Goryeo thường uốn cong một chân lên và hạ chân kia xuống. Trong các bức tranh được vẽ trong triều đại Joseon, Ngài thường nâng một đầu gối về phía trước và đặt một tay lên đó.

"Gần đây, một bức tranh Quán Thế Âm Bồ-tát rất độc đáo đã được tìm thấy trong một ngôi chùa tại Kamakura, tỉnh Kanagawa, Nhật Bản", Jeong Woo-take, giám đốc Bảo tàng Đại học Dongguk, một chuyên gia về tranh Phật giáo, nói.

"Dựa trên các kỹ thuật được sử dụng để vẽ khuôn mặt bầu bĩnh, phác thảo rõ ràng, và phân cấp của hoa sen, tôi cho rằng bức tranh được vẽ vào giữa thế kỷ 16". Theo Jeong, có 6-7 bản in gỗ tương tự như bức tranh này, bao gồm cả những bức trong chùa Guin, nhưng một bức tranh như thế này chưa bao giờ được tìm thấy.

Bức tranh mới được tìm thấy này được vẽ trên vải gai có kích thước 119,2 cm x 70,9 cm. Bức tranh có đặc điểm điển hình của tranh Phật giáo; nền đỏ và một phác thảo vàng được vẽ một cách cẩn thận. Jeong đánh giá bức tranh khi cho rằng, "Bức tranh này là một ví dụ đại diện của Hàn Quốc diễn giải lại các bức tranh của Trung Quốc. Nó bổ sung vào sự đa dạng của bức tranh Phật giáo được vẽ trong giai đoạn đầu triều đại Joseon".

Văn Công Hưng

Đạo đức căn bản của người Phật tử

Đạo đức căn bản của người Phật tử

Đăng lúc: 18:22 - 19/11/2015

Chúng ta đang sống trong thời văn minh vật chất, chủ nghĩa thực dụng đang xói mòn đạo đức, lương tâm con người. Ta đang sống và hành động theo lý trí mà không biết đang đi vào tội ác, nhiều khi mình không biết đó là tội ác.

Những kế hoạch dày đặc, những công việc gấp rút, làm cách nào thu nhập thật cao để thỏa mãn vật chất đến độ những người khác ngước nhìn. Nếu cần thì sẵn sàng bội ước, đốn ngã tình bạn, lừa đảo… miễn sao lợi ích về phía mình càng nhiều càng tốt.
Đức Phật vì từ bi đã truyền trao cho hàng Phật tử tại gia năm chuẩn mực đạo đức. Không phụ thuộc vào trình độ, tuổi tác, dân tộc, tôn giáo, không gian và thời gian, bất cứ ai cũng có thể tuân theo những lời dạy này, vì đó là đạo đức xã hội. Tuy vậy, nếu không tuân thủ theo lời Phật dạy thì Ngài cũng không hề trừng phạt mà tất cả chỉ vận hành theo luật nhân quả.

Vâng theo năm điều Phật dạy chắc chắn sẽ có cuộc sống bình an, trật tự trong gia đình, ngoài xã hội được thiết lập. Không chỉ riêng hàng đệ tử Phật, xã hội cũng cần theo năm chuẩn mực đạo đức này, vì đây là căn bản của mối liên kết thiện lành của cá nhân và xã hội. Cá nhân mỗi người có cuộc sống hiền lành, hạnh phúc thì xã hội mới an vui.

Năm chuẩn mực đạo đức là rào cản để con người không nhúng tay vào tội ác, để thực thi tính công bằng, bình đẳng, lòng từ bi, tránh được nhân quả báo ứng, oán thù, bao gồm: Không giết hại, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không say nghiện.

Không giết hại

Chuẩn mực đạo đức thứ nhất, Phật dạy chúng ta không giết hại con người cho đến con vật. Sự sống đáng quý biết bao nên không thể giết người cướp của hay bất cứ lý do gì. Không giết hại các loài vật để con người được ăn ngon, mặc đẹp. Không giết hại những con vật để tỏ ra mình sang chảnh (thực ra là tàn bạo) như ăn món óc khỉ, hay uống rượu pha máu rắn. Không biết bổ béo ở đâu nhưng thấy con khỉ đau đớn dưới bàn hay con rắn quằn quại dưới tay người tôi chỉ nhắm mắt lại, trái tim tê buốt. Ta tàn nhẫn khi giết hại thú vật và từ đó trái tim ta cũng chai sạn, và một lần mê muội nào đó ta dễ dàng ra tay hạ thủ con người.

Không giết hại, tâm hồn chúng ta sẽ an bình, tâm yêu thương tràn ngập, nét mặt hiền hòa, ánh mắt trong sáng, tâm không giày vò hối hận, không gặp những cơn ác mộng. Trong xã hội sẽ không xảy ra cảnh chỉ cần xung đột nhỏ liền ra tay giết hại lẫn nhau. Cha mẹ biết tu và con cái cũng tu. Dạy con từ ngày còn nhỏ không bắt con bướm, cái ve… chơi đã thì vặt đầu, xé mình hàng năm bảy mảnh. Khi lớn tâm con sẽ an hòa và xử sự với mọi người chung quanh như chính với bản thân mình. Lòng từ bi thương người sẽ luôn luôn đồng hành với con trong cuộc sống.

Mình thực tập ăn chay và động viên cả gia đình cùng ăn chay, ít nhất một tháng được hai ngày. Chúng ta ngày ăn ít thịt, ít cá một chút, thêm chút rau cà. Một ngày ta ăn thêm một phần rau và giảm bớt một phần thịt. Dần dần, ăn chay trường được lại càng hay.

Không trộm cướp

Chuẩn mực đạo đức thứ hai, Phật dạy chúng ta không nên trộm cắp. Ai cũng biết trộm cướp là lấy những vật không thuộc quyền sở hữu của mình, lấy không có sự ưng thuận, hay ép buộc người khác để ta lấy vật họ sở hữu. Vật nhỏ như trái ớt, cọng hành, lớn thì vàng bạc, nhà cửa đất đai nếu không cho thì không được lấy. Vì ăn sang, mặc trọng cho đến nghiện hút mà người nghèo trộm cắp, giết người cướp của. Còn người giàu thì muốn tài sản mình càng lớn, ai cũng nể nên đang tâm tranh giành đất đai của cải của cha mẹ anh em gây bao đau đớn. Kẻ đa mưu lừa gạt người hiền lấy tài sản mà họ ki cóp cả đời. Bao nhiêu giấy tờ gian xảo tham nhũng của công biết bao nhiêu tiền bạc, tài sản mà đó là từng giọt mồ hôi của người lao động đóng thuế hàng ngày.

Người công nhân thì hàng ngày cầm về cái kéo, cuộn băng keo, tờ giấy; người buôn bán thì cân thiếu một chút; người có chức quyền thì nhũng nhiễu tiền bạc không sao đếm xuể; người nghèo túng giật những điện thoại, dây chuyền; trẻ con thì chơi game túng tiền về lấy tiền của ông bà cha mẹ. Có không ít người vì trộm cướp mà xấu hổ, bị bắt và bị phạt tù. Thế là cuộc đời tan nát, thế là tay đã nhúng chàm. Tội bản thân mình còn con cháu, anh em cha mẹ cũng bị mang tiếng theo.

Trộm cắp thời nào cũng có nhưng xã hội bình an chỉ có những trộm vặt. Còn khi xã hội bất an thì những vụ trộm cắp, cướp của giết người gần như xảy ra mỗi ngày. Chúng ta không trộm cướp thì chính ta và mọi người được sống một cuộc sống an lành. Không để ý ai giàu có rồi suy tính cách trộm cướp của họ. Chúng ta sẽ có một giấc ngủ ngon, xã hội nhờ đó mà được tốt đẹp hơn.

Không tà dâm

Đức Phật không dạy người Phật tử phải từ bỏ cuộc sống vợ chồng. Ngài dạy vợ chồng có cưới hỏi, sống với nhau chung thủy.

Cuộc sống tình cảm ngày nay nhờ internet, điện thoại mà những cuộc gặp gỡ rộng rãi hơn và tình cảm ngoài luồng phát sinh nhiều hơn. Do vậy, những cảnh vợ chồng bất hòa, lục đục, nghi ngờ, ghen tuông, thậm chí là giết nhau vì ngoại tình đã liên tục xảy ra.

Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc khi cả hai cùng hướng về nhau, cùng chăm sóc nhau, cùng vun vén cho con cái có cuộc sống đầy đủ về vật chất và thoải mái về tinh thần. Ai cũng mong mình có một gia đình trọn vẹn hạnh phúc. Do đó cũng không nên nhìn ngắm, tơ tưởng những người khác ngoài vợ chồng của mình. Những người giữ được hạnh không tà dâm, chuẩn mực đạo đức này sẽ giúp họ được người khác kính trọng và cuộc sống gia đình an vui, hạnh phúc.

Không nói sai sự thật

Chuẩn mực đạo đức thứ tư, Phật dạy chúng ta không nói sai sự thật. Nói sai sự thật có 4 cách: Nói dối, nói thêu dệt, nói lưỡi hai chiều, nói lời hung ác.

Nói dối là chuyện không nói có, chuyện có nói không, nói toàn điều dối trá.

Nói thêm thắt vào sự thật, đổi giọng sao mua được nước mắt người, nói làm sao người nghe xiêu lòng để mình được lợi là nói thêu dệt.

Nói lưỡi đôi chiều là nói kiểu đòn xóc hai đầu. Đến người này nói xấu chuyện người kia, đến người kia nói xấu chuyện người này khiến họ mâu thuẫn, oán thù nhau.

Nói lời hung ác là mắng chửi, nói lời độc địa, thô ác, cục cằn gây đau buồn cho người nghe.

Người nói đúng sự thật là người gây được niềm tin với người chung quanh. Kết quả những cuộc giao lưu, làm ăn được tin tưởng và sự thành công luôn đến với người chân thật. Dù chỉ là người bán hàng, một nhân viên văn phòng, một giám đốc kinh doanh… nếu giữ được hạnh không nói sai sự thật thì chắc chắn sẽ có cuộc sống bình an, không thắc thỏm giật mình.

Không say nghiện

Chuẩn mực đạo đức thứ năm, Phật dạy chúng ta không say nghiện. Ngoài rượu còn có các chất gây nghiện, gây kích thích khác đều không được dùng, hoặc nài ép người khác dùng. Các loại rượu và các chất hóa học gây kích thích khác chúng ta không dùng vì bảo toàn trí tuệ nòi giống, hạn chế tối đa các nguyên nhân gây nên lầm lỗi, tội phạm.

Khi uống rượu say hoặc nghiện ngập thì không đủ lý trí để xử lý bất cứ tình huống nào. Không nhận ra điều lành, điều dữ, cạn tình cha con, mẹ con, vợ chồng, anh em, bè bạn. Say nghiện là một trong những nguyên nhân quan trọng gây xáo trộn trong gia đình, gây bất hòa với mọi người, gây tai nạn giao thông, làm rối loạn an ninh trật tự, gây tổn hại kinh tế cho gia đình và xã hội.

Người biết tuân thủ năm chuẩn mực đạo đức mà Đức Phật dạy là người biết sống an lạc, gia đình được hạnh phúc. Chính điều này đã góp phần đem hạnh phúc cho người xung quanh, đóng góp gìn giữ đạo đức và bình an cho xã hội. Đệ tử Phật là người luôn sống với tâm từ bi, đầy đủ năm chuẩn mực đạo đức, tâm tự lợi và lợi tha. Đây cũng là phẩm chất đạo đức căn bản của con người sống trong xã hội vốn nhiều cạnh tranh và biến động như hiện nay.

Xã hội ngày nay muốn phát triển bền vững, xây dựng đời sống cá nhân và cộng đồng hạnh phúc thì năm chuẩn mực đạo đức của Đức Phật cần được học tập, ứng dụng, phổ biến rộng rãi cho tất cả mọi người.
Kim Dung

Khai mạc “Hội trại tập huấn Thanh niên phật tử toàn quốc” lần thứ nhất

Khai mạc “Hội trại tập huấn Thanh niên phật tử toàn quốc” lần thứ nhất

Đăng lúc: 21:41 - 17/10/2015

Được sự chấp thuận của Ban Tôn Giáo Chính Phủ, Sở Nội Vụ - Ban Tôn Giáo Thành Phố Hà Nội. Đặc biệt là sự quan tâm, chỉ đạo của Thường trực HĐTS T.Ư GHPG Việt Nam. Hôm nay ngày 04/ 09/Ất Mùi (16/10/2015) Ban Hướng Dẫn Phật tử Trung Ương phối hợp cùng Học viện Phật Giáo Việt Nam tại Hà Nội và Chùa Phật Quang (Bà Rịa Vũng Tàu)long trọng tổ chức lễ khai mạc "Hội trại tập huấn Thanh niên Phật tử toàn quốc 2015" lần thứ nhất tại Học viện Sóc Sơn Hà Nội.

Tham dự và chứng minh buổi lễ có HT.Thích Thiện Duyên – Thành viên HĐCM- Phó chủ tịch HĐTS GHPGVN kiêm trưởng Ban HDPT T.Ư; HT.Thích Thanh Nhiễu – Phó chủ tịch Thường trực HĐTS GHPGVN; HT.Thích Thanh Hưng – Phó trưởng Ban HDPT T.Ư; TT.Thích Thanh Điện – Phó tổng thư ký HĐTS GHPGVN kiêm chánh văn phòng I ; Phó trưởng Ban TT Ban HDPT T.Ư- Trưởng Ban tổ chức Hội trại tập huấn Thanh niên Phật tử Việt Nam lần thứ nhất; TT.Thích Đức Thiện – Tổng thư ký HĐTS GHPGVN; TT.Thích Bửu Chánh - Ủy viên TT HĐTS GHPGVN- Phó ban Hoằng pháp T.Ư; HT.Thích Thanh Toàn – Phó trưởng Ban TT Ban HDPT T.Ư; TT.Thích Chân Quang – Phó trưởng Ban kinh tế T.Ư GHPGVN – Phó trưởng Ban Thường trực Ban tổ chức Hội trại cùng chư tôn đức HĐCM, HĐTS BTS các tỉnh thành phía Bắc cùng hơn 2000 thanh niên Phật tử trong toàn quốc cùng về tham dự.

Về phía chính quyền có ông Phạm Dũng – thứ trưởng Bộ nội vụ - Trưởng Ban tôn giáo Chính phủ; ông Lê Minh Khánh - Phó vụ trưởng vụ Phật giáo Ban tôn giáo Chính phủ; ông Nguyễn Phi Long – Bí thư Trung ương Đoàn – Chủ tịch T.Ư Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam; ông Vũ Minh Lý – Giám đốc Trung tâm tình nguyện Quốc gia; ông Nguyễn Tuấn Bình – Phó trưởng phòng PA 88 Công an Thành phố Hà Nội cùng đại diện lãnh đạo các cơ quan ban ngành trung ương và địa phương cùng về tham dự.




Tại buổi lễ TT.Thích Thanh Điện –Trưởng Ban tổ chức Hội trại tập huấn Thanh niên Phật tử toàn quốc phát biểu khai mạc đã nhấn mạnh: Hội trại lần này nhằm xây dựng cho Thanh niên Phật tử sống có lý tưởng cao đẹp, nêu cao tinh thần yêu nước và phụng sự, cống hiến cho xã hội. Định hướng trong đường lối tu học cho Thanh niên Phật tử xã hội ngày nay. Nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ về công tác tổ chức, tập hợp Thanh niên Phật tử của các cấp Giáo hội.

Qua chương trình Hội trại chư tôn đức mong muốn xây dựng cho lớp trẻ những kiến thức vững về đạo lý, khỏe về thể lực, rộng về kiến thức - trình độ, đủ năng lực đóng góp cho xã hội, biết chan hòa tình yêu dân tộc, đất nước, thiên nhiên và con người trong tấm lòng từ bi chan chứa mà sâu lắng.

Hội trại tập huấn thanh niên Phật tử toàn quốc 2015 là một nét mới thể hiện tinh thần – Tu – Hoằng pháp – Hộ đạo- Hộc quốc trong thời đại mới mà Ban Hướng dẫn Phật tử T.Ư lần đầu tiên thể nghiệm tổ chức giảng dạy cho các em. Ngoài ra các em còn được học thêm các chuyên đề như: Mưu sinh lập nghiệp; Đạo đức trong tình yêu hôn nhân giới tính xuất gia và tại gia; Đạo pháp Dân tộc CNXH; Những điều cần thiết cho một chúng Thanh niên Phật tử bao gồm đạo lý tu tập, nội dung những buổi sinh hoạt; công tác phụng sự cho Phật pháp tại các chùa và các cấp của Giáo hội. Hội trại được diễn ra trong ba ngày từ 16 đến 18/10/2015 tại Học viện Phật giáo Việt Nam (xã Phù Linh, Sóc Sơn, Hà Nội)




Ông Phạm Dũng – Thứ trưởng Bộ nội vụ - Trưởng Ban tôn giáo Chính phủ phát biểu tại buổi khai mạc bày tỏ niềm vui mừng được về tham dự buổi lễ. Việc tổ chức Hội trại tập huấn Thanh niên Phật tử toàn quốc là sự kiện tôn giáo mang tính xã hội quan trọng trong đời sống tinh thần và tín ngưỡng của nhân dân theo đạo Phật nói chung và của thanh niên Phật tử, Gia đình Phật tử nói riêng. Sự hiện diện của đại biểu đại diện lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương cùng đông đảo tăng ni, Phật tử trong lễ khai mạc đủ nói lên sự hòa quyện gắn bó giữa đạo với đời, sự gắn kết giữa Giáo hội và Dân tộc trong việc chung tay chăm lo cho thế hệ trẻ - tương lai của đất nước.

Ông hy vọng với trí tuệ Phật giáo, với tinh thần đoàn kết lục hòa của tăng ni, Phật tử với đường hướng gắn bó, đồng hành cùng dân tộc và với truyền thống của Phật giáo Việt Nam, GHPGVN nói chung và Ban HDPT T.Ư Giáo hội nói riêng, sẽ tiếp tục hạnh nguyện nhập thế, hướng dẫn tín đồ, Phật tử lấy việc phục vụ chúng sinh, ích đạo lợi đời làm phương tiện tu tập thành tựu.




Tại buổi lễ ông Nguyễn Phi Long – Bí thư BCH Trung ương Đoàn- Chủ tịch Hội LHTN Việt Nam phát biểu tại Hội trại tập huấn Thanh niên Phật tử toàn quốc. Ông đã chia sẻ Trong thời gian qua Đoàn TNCS Hồ Chí Minh , Hội LHTN Việt Nam đã luôn xác định công tác đoàn kết, tập hợp rộng rãi các tầng lớp thanh niên, chăm lo, đồng hành với thanh niên nói chung và thanh niên Phật giáo nói riêng là nhiệm vụ quan trọng của tổ chức Đoàn, Hội. Trong thời gian tới rất mong GHPGVN sẽ tiếp tục đồng hành cùng Trung ương Đoàn, Trung ương Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam trong các hoạt động ý nghĩa này.

Hy vọng qua Hội trại tập huấn lần này các em sẽ có điều kiện giao lưu, trao đổi nhiều kiến thức về Phật pháp, nhưng điều căn bản là phải củng cố được lòng yêu nước trách nhiệm công dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sau hội trại các em sẽ là những nhân tố để khuyến dương tinh thần đạo Phật, xứng đáng là thế hệ tương lai đầy trí tuệ của Phật giáo Việt Nam.

Nhân dịp này Toàn thể hội chúng được nghe lời ban đạo từ của HT.Thích Thiện Duyên và HT.Thích Thanh Nhiễu sách tấn các trại sinh tham dự hội trại.




Hòa thượng Thích Thiện Duyên gửi lời cảm ơn tới các cơ quan ban ngành chính quyền đã giúp đỡ Ban HDPT T.Ư về việc tổ chức được Hội trại tập huấn Thanh niên phật tử toàn quốc 2015. Hòa thượng cũng đã nhấn mạnh “Thanh niên phật tử chúng ta luôn sống theo lời Phật dạy không ngừng tu tập trau dồi kiến thức và tham gia nhiều công tác hữu ích trong xã hội , cùng nhau xây dựng những ngôi nhà tình thương và có cuộc sống ổn định .

Đây là Hội trại tập huấn của thanh niên phật tử toàn quốc lần đầu tiên được tổ chức tại thủ đô Hà Nội rất mong Ban HDPT trong tương lai sẽ tổ chức hội trại tập huấn Thanh niên phật tử toàn quốc mỗi năm một lần tạo cơ hội cho các bạn thanh niên phật tử có cơ hội giao lưu chia sẻ học hỏi các kiến thức bổ ích mang đến cuộc sống tốt đẹp cùng gieo cho nhau những việc làm hữu ích trong xã hội”.




HT.Thích Thanh Nhiễu Ban đạo từ ghi nhận và tán thán chương trình của Ban HDPT T.Ư . Hòa thượng nhấn mạnh Thanh niên là lực lượng xã hội hùng hậu, có sức khoẻ, có trình độ học vấn, có tiềm năng sáng tạo, có khả năng tiếp cận và làm chủ khoa học hiện đại. Thanh niên thanh niên Phật tử chúng ta là sức trẻ của tương lai đất nước chúng ta phải học tập rèn luyện để trở thành những người hữu ích của xã hội nhằm bảo tồn giữ vững bản sắc dân tộc.

Trong ba ngày với các hoạt động, đặc biệt trong ngày thứ nhất các em được học 5 đề tài, vừa là đạo lý vừa là quan điểm sống: thanh niên với việc học đời, học đạo, bí quyết làm thế nào để học giỏi trên quan điểm của đạo Phật; tu tập, bao gồm tu dưỡng đạo đức bản thân, tu tập về tâm linh đạo Phật; thanh niên với vấn đề hoằng pháp; thanh niên với vấn đề ngộ đạo; thanh niên với vấn đề phục quốc (bảo vệ danh dự đất nước, bảo vệ văn hóa đất nước, bảo vệ ổn định chính trị và an ninh quốc gia).
Xin giới thiệu chùm ảnh khai mạc tại buổi lễ






Cung nghinh chư tôn đức và đại biểu quang lâm









Niệm Phật cầu gia hộ







































TT.Thích Thanh Điện - Trưởng ban tổ chức hội trại tập huấn đón nhận lẵng hoa của chư tôn đức HĐTS và các ban ngành trao tặng





TT.Thích Chân Quang - Phó Ban TT Ban tổ chức Hôi trại đón nhận lẵng hoa của các ban ngành trao tặng









Đại diện cho hơn 2000 trại sinh tham dự Hội trại tập huấn Thanh niên phật tử toàn quốc lên tuyên hứa trước sự chứng minh của mười phương chư phật, chư tôn đức Giáo Phẩm Hoà Thượng, Thượng Toạ và toàn thể các vị đại biểu khách quý.













































Cũng ngay trong ngày đầu tiên tập huấn các trại sinh được nghe các bài giảng của chư tôn đức thuyết giảng với các nội dung : “ thanh niên với việc học – Thanh niên với việc hộ quốc”, “Thanh niên với việc tu” ; “Thanh niên với việc hoằng pháp” , “Thanh niên với việc hộ đạo”.




Buổi sáng các trại sinh được nghe TT.Thích Chân Quang - PHó trưởng ban TT Ban tổ chức Hội trại tập huấn giảng về “ Thanh niên với việc học – Thanh niên với việc hộ quốc”











Buổi chiều toàn thể trại sinh được nghe các bài giảng của chư tôn đức. TT.Thích Đức Thiện - Tổng thư ký HĐTS GHPGVN giảng về "Thanh niên với việc tu”











TT.Thích Bửu Chánh- Ủy viên TT HĐTS GHPGVN - Phó Ban hoằng pháp T.Ư với nội dung “thanh niên với việc hoằng pháp”



















TT Thích Minh Quang - Phó BTS kiêm Chánh thư ký GHPGVN tỉnh Ninh Bình với vấn đề “thanh niên với việc hộ đạo”

Nghệ An: khai mạc Hội nghị tập huấn cho Tăng, Ni, Phật tử trên địa bàn tỉnh.

Nghệ An: khai mạc Hội nghị tập huấn cho Tăng, Ni, Phật tử trên địa bàn tỉnh.

Đăng lúc: 23:01 - 16/10/2015

Sáng nay 16/10/2015, tại nhà hội trường nhà khách Nghệ An, số 4 Phan Đăng Lưu, Tp.Vinh, Ban Tôn giáo - Sở Nội vụ tỉnh Nghệ An khai mạc Hội nghị tập huấn chính sách của Đảng, pháp luật nhà nước về tôn giáo; hiến chương và các quy định của giáo hội cho Tăng, Ni, Phật tử trên địa bàn Thành phố Vinh năm 2015.


Về phía đại biểu tỉnh Nghệ An có ông Lê Xuân Đại, phó chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An, Ông Lưu Công Vinh, Phó giám đốc sở nội vụ - Trưởng Ban Tôn giáo tỉnh. TT.Thích Thọ Lạc, Phó ban Thường trực BTS GHPGVN tỉnh Nghệ An cùng Tăng,Ni trong BTS, các ông bà đại diện các ban ngành các cấp tham dự .

Tập huấn chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước và các quy định của giáo hội cho Tăng, Ni, và 800 Phật tử trên địa bàn Nghệ An, đợt này Ban Tôn giáo – Sở Nội vụ tỉnh Nghệ An tổ chức tập huấn từ ngày 16/10/2015 cho đến hết ngày 26/10/2015 tại bốn điểm trong tỉnh:
+ Điểm thứ nhất: từ ngày 16 và 17/10/2015 tại nhà khách Nghệ An,số 4 Phan Đăng Lưu,thành phố Vinh. (Bao gồm :Tp Vinh, Nghi Lộc, TX Cửa Lò)
+ Điểm thứ hai: từ ngày 19 và 20/10/2015 tại Khánh sạn Đại Dương,xã Diễn Thành,huyện Diễn Châu.
(Bao gồm các huyện : Diễn Châu ,TX Hoàng Mai)
+ Điểm thứ ba: từ ngày 23 và 24/10/2015 tại thị xã Thái Hòa.
(bao gồm: TX Thái Hòa, huyện Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn,Tân Kỳ)
+ Điểm thứ hai: từ ngày 25 và 26/10/2015 tại nhà khách huyện ủy Đô Lương.
(Bao gồm các huyện :Đô Lương, Anh Sơn, Con Cuông, Thanh Chương)

Trên địa bàn tỉnh hiện có 2 tôn giáo hợp pháp: Công giáo và Phật giáo, ngoài ra có một số tín đồ các tôn giáo khác, trong đó, có 46 ngôi chùa và 01 niệm Phật đường, số lượng chùa có sư trụ trì 24 chùa, với khoảng 30-45 ngàn phật tử, có một số cơ sở có nguồn gốc Phật giáo đang thực hiện các thủ tục để tiếp tục xin phục hồi.



ông Lê Xuân Đại, phó chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An phát biểu khai mạc hội nghị.
Thực hiện chính sách pháp luật của Nhà nước về tôn giáo, những năm qua cấp ủy chính quyền các cấp tỉnh Nghệ An đã thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo về công tác tôn giáo, tạo điều kiện thuận lơi cho các tôn giáo hoạt động hợp pháp trên địa bàn.
Tại Hội nghị, ông Nguyễn Văn Long, phó Ban Tôn giáo – Sở Nội vụ đã phổ biến, trao đổi các nội dung: Tư tưởng Hồ Chí Minh; Quan điểm chính sách của Đảng ta về tôn giáo; Pháp lệnh Tín ngưỡng tôn giáo; Nghị định 92/2012/NĐ-CP của chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lện Tín ngưỡng tôn giáo và một số văn bản liên quan hoạt động tôn giáo.Tình hình hoạt động Phật giáo;Công tác Quản lý Nhà nước đối với hoạt động Phật giáo.
Đại diện BTS GHPG tỉnh Nghệ An,thầy Thích Định Tuệ giảng các chuyên đề “ Hiến chương sửa đổi lần V; Nội quy tăng sự Trung ương GHPG Việt Nam; Quy chế hoạt động BTS GHPG cấp tỉnh,cấp thành phố trực thuộc TW; Quy chế hoạt động và các văn bản quan trọng của BTS tỉnh hội.

Qua lớp tập huấn, các đại biểu nâng cao nhận thức về công tác tôn giáo nói chung và kỹ năng, nghiệp vụ trong quản lý Nhà nước đối với công tác tôn giáo Phật giáo nói riêng. Từ đó giải quyết tốt các vấn đề về tôn giáo, nêu cao tinh thần cảnh giác và lợi dụng tôn giáo với các hoạt động trái với luật pháp, gây mất ổn định an ninh chính trị ở địa phương.


Đại biểu tham dự hội nghị
Mục đích hội nghị sẽ giúp Tăng, Ni, Ban hộ tự, Phật tử trên địa bàn tỉnh hiểu đầy đủ về chính sách tôn trọng tín ngưỡng tôn giáo của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo. Trên cơ sở đó thực sự yên tâm, tin tưởng, nhất là chuyển biến về thái độ, trách nhiệm, tôn trọng chấp hành pháp luật, tôn trọng hợp tác với chính quyền trong công tác tôn giáo nhằm đảm bảo tốt nhất quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của đồng bào có đạo và phát huy tích cực của các tôn giáo, đoàn kết với nhân dân xây dựng quê hương đất nước giàu đẹp, bình yên.
Vũ Thái Quảng.

Câu chuyện luân hồi: Hòa thượng một niệm bất chính hủy đi cơ duyên cả đời tu luyện

Câu chuyện luân hồi: Hòa thượng một niệm bất chính hủy đi cơ duyên cả đời tu luyện

Đăng lúc: 18:41 - 07/09/2015

Có bao giờ bạn suy nghĩ rằng người thân, bạn bè, những người mà bạn gặp trong cuộc đời này là ngẫu nhiên không? Tại sao đó không phải là một người khác? Thực ra những quan hệ xã hội trong hiện tại tất cả đều dựa trên tiền duyên. Tiền duyên có một mối liên hệ mật thiết với sự luân hồi hay chuyển sinh mà Phật gia hay nói tới.
tu luyện, luân hồi, hòa thượng,
Hòa thượng Hoa Nghiêm là một đồ đệ của Thần Tú, ông tổ Bắc Phái của Thiền Tông. Ông từng tu hành tại Thiên Cung Tự thuộc Lạc Dương, Hà Nam, nơi ông dẫn dắt hơn 300 đồ đệ tu hành. Có một quy tắc nghiêm ngặt ở trong chùa là tất cả đồ đệ phải sắp xếp tề chỉnh bình bát (bát khất thực) của mình ra trước khi bữa ăn được phục vụ.
Một hòa thượng trong số các đồ đệ của Hoa Nghiêm ở tầng tu luyện cao hơn tất cả những người khác. Tuy vậy, ông lại rất hẹp hòi và cáu kỉnh. Một lần, vị hòa thượng này không dùng bữa cùng những hòa thượng khác vì ông đang ốm.
Một hòa thượng, người mới vào chùa đã để mất chiếc bát, tới để gặp vị này. Anh bái lạy và nói: “Tôi không có bát để ăn cơm. Tôi không biết phải làm sao nếu không có chiếc bát. Tôi băn khoăn không biết ông có thể vui lòng cho tôi mượn chiếc bát của ông hôm nay không. Tôi sẽ đi mua một chiếc mới vào ngày mai”.
Vị hòa thượng kia từ chối không cho anh ta mượn chiếc bát. Ông đáp: “Tôi đã dùng chiếc bát này vài chục năm rồi. Tôi sợ anh sẽ vô tình làm vỡ nó”. Vị hòa thượng tập sự van nài: “Tôi chỉ dùng nó cho bữa hôm nay thôi, rồi sẽ trả lại ông ngay. Làm sao tôi có thể làm vỡ nó khi tôi chỉ cầm nó trong chốc lát thôi?”
Sau khi cam đoan nhiều lần, vị hòa thượng kia cuối cùng đã cho anh ta mượn chiếc bát. Trước khi ông đưa chiếc bát, ông đã cảnh báo: “Tôi trân quý chiếc bát này còn hơn cả mạng sống của tôi. Nếu anh làm hư hỏng chiếc bát, anh đã thực sự giết tôi đấy!”
Vị hòa thượng trẻ cầm lấy chiếc bát, và anh giữ nó một cách cẩn thận bằng cả hai tay. Ngay khi anh vừa ăn xong và sẵn sàng trả chiếc bát, anh đã bắt đầu vội vội vàng vàng từ trong phòng. Vị hòa thượng tập sự này cầm chiếc bát và chạy xuống cầu thang từ nhà ăn. Không may, anh vấp vào một viên gạch và ngã xuống. Chiếc bát vỡ tan tành. Sau một lúc, vị hòa thượng kia bắt đầu thúc giục anh trả lại ông chiếc bát.
Vị hòa thượng mới này rất sợ sệt, nhưng anh không còn cách nào khác ngoài đến gặp vị hòa thượng kia và nhận lỗi. Anh xin lỗi bằng cách liên tục khấu đầu, nhưng vị hòa thượng kia gào lên: “Giờ anh đã thực sự giết tôi rồi đó!” Ông nổi trận lôi đình và không ngừng la mắng và chửi rủa độc ác. Vì biến cố này, sức khỏe của ông xấu đi nhanh chóng. Ông qua đời vào ngày hôm sau.
Một thời gian sau biến cố này, hòa thượng Hoa Nghiêm có một buổi giảng kinh tại chùa Nhạc Tự ở trên Tung Sơn cho hơn 100 đồ đệ, bao gồm cả vị hòa thượng tập sự kia. Đột nhiên, một âm thanh giống như một cơn bão ập tới từ thung lũng phía ngoài ngôi chùa.
Hòa thượng Hoa Nghiêm bèn bảo vị hòa thượng tập sự sang đứng bên cạnh ông. Ngay sau đó, một con rắn khổng lồ dài cỡ 8-9 trượng và đường kính cỡ 4-5 cánh tay bò vào trong chùa với một cái nhìn đầy phẫn nộ và miệng há to. Tất cả hòa thượng đứng xung quanh Hoa Nghiêm đều muốn trốn đi, nhưng Hoa Nghiêm đã ngăn họ lại, và yêu cầu họ đừng cử động.
Con rắn khổng lồ bò một cách chậm chạp vào giảng đường. Khi leo lên cầu thang, nó bắt đầu nhìn quanh và cố tìm kiếm thứ gì đó hay ai đó. Hòa thượng Hoa Nghiêm đứng chặn đường nó với một cây tích trượng và hô: “Dừng lại!” khi con rắn định bò lên ghế trong giảng đường. Con rắn khổng lồ bỗng cúi đầu xuống và nhắm mắt lại.
Hòa thượng Hoa Nghiêm bắt đầu quở mắng con rắn, gõ vào đầu nó bằng cây tích trượng và nói: “Giờ ngươi đã minh bạch được nghiệp mà ngươi đã tạo ra hay chưa. Ngươi nên hồi hướng Tam bảo”. [Chú thích: ‘Tam bảo’ là một ẩn dụ trong Phật giáo.] Ông yêu cầu tất cả hòa thượng ở đó cùng nhau niệm kinh Phật hướng về con rắn, và con rắn bò ra khỏi chùa.
Hòa thượng Hoa Nghiêm bèn triệu hồi vị hòa thượng tập sự tới và nói: “Con rắn đó là thầy của con (vị hòa thượng đã chết). Sau nhiều năm tu hành, ông ấy đã gần đạt chính quả. Tuy nhiên, ông ấy đã nổi giận chỉ vì chiếc bát đó. Thay vì tu thành chính quả, ông ấy đã chuyển sinh thành một con đại mãng xà. Ông ấy tới để giết con vì con đã làm vỡ chiếc bát. Nếu thật sự giết con, ông ấy sẽ phải xuống ngục vô gián, và bị chịu dày vò mãi mãi ở trong đó. May mắn thay, ta đã chặn ông ấy gây tội ác đúng lúc, và giải thoát ông ấy khỏi kiếp sống của con đại mãng xà. Bây giờ con nên đi xem ông ấy ra sao”.
Người đệ tử bèn đi ra và tìm kiếm con đại mãng xà. Thật là dễ dàng để lần theo dấu vết của con rắn dựa vào các đám cây cỏ bị đổ rạp khi nó bò qua. Bước đi theo vết bò của con rắn giống như bước đi trên một con đường trải dành cho xe ngựa kéo. Con rắn đã bò được 45 lý vào một vùng sơn cốc rất hẻo lánh trước khi nó tự vẫn bằng cách đập đầu vào một tảng đá. Người đệ tử trở về và báo với hòa thượng Hoa Nghiêm về điều đã xảy ra với con rắn.
Hòa thượng Hoa Nghiêm nói: “Bây giờ con rắn đã chuyển sinh thành đứa con gái sắp sinh của Bùi lang trung. Đứa bé gái này mười phần thông tuệ, nhưng lại chết yểu vào tuổi 18. Và rồi cô lại sẽ được đầu thai thành một đứa bé trai, sẽ xuất gia và tu hành theo Phật giáo khi lớn lên. Bùi lang trung là một trong những đồ đệ của ta. Con có thể tới thị trấn và thăm hỏi Bùi lang trung giùm ta. Phu nhân của Bùi lang trung đang gặp khó khăn khi sinh nở. Con nên đi ngay lập tức và giúp đỡ đứa bé gái.”
Ông Bùi Khoan là một vị lang trung phục vụ trong quân đội. Ông cũng là một đồ đệ của hòa thượng Hoa Nghiêm. Vị hòa thượng tập sự đi vào thành, và bái kiến gia đình ông Bùi Khoan. Tình cờ, ông Bùi đang xin nghỉ phép ở nhà để chăm sóc phu nhân. Người đệ tử bèn nhờ người hầu chuyển giúp lời tới ông Bùi: “Hòa thượng Hoa Nghiêm có chuyển lời tới ông!”
Vị lang trung bèn đi ra ngoài để gặp người đệ tử; trông ông khá bối rối. Người đệ tử hỏi lý do và biết được rằng phu nhân của ông đã bị đẻ khó từ sáu đến bảy ngày. Ông Bùi đã ở bên phu nhân của ông mỗi đêm với cây đèn dầu. Dường như bà và đứa bé đang trong tình trạng rất nguy kịch.
Người đệ tử nói: “Tôi có thể giúp đỡ phu nhân”. Người đệ tử yêu cầu trải một tấm chiếu sạch ở nhà ngoài bên cạnh buồng ngủ. Người đệ tử bèn ngồi lên tấm chiếu, đốt hương, gõ khánh, và kêu lên ba lần: “Hòa thượng.”
Phu nhân của ông Bùi lập tức sinh hạ được một đứa bé gái. Đứa bé gái này qua đời vào tuổi 18 đúng như hòa thượng Hoa Nghiêm đã dự báo.
Những câu chuyện luân hồi thật kỳ lạ, nhân duyên khiến cho người ta phải gặp lại nhau, dù là thiện duyên hay ác duyên cũng vậy, hãy cứ vui vẻ mà đối diện. Hy vọng rằng bạn sẽ có được cảm hứng từ câu chuyện này và nhận ra được tầm quan trọng của việc đối xử với những người chúng ta gặp bằng một trái tim từ thiện.
Tài liệu gốc: Sưu tập những câu chuyện kỳ dị (Thái Bình Quảng Ký)

Theo Chánh Kiến

Học để hoàn thiện chính mình

Học để hoàn thiện chính mình

Đăng lúc: 07:29 - 21/07/2015

Học để hoàn thiện chính mình là việc học suốt cả cuộc đời, chẳng thể nào được tốt nghiệp trọn vẹn, nếu ta không có đủ ý chí và nghị lực.


Thứ nhất: “Học để biết cách hiếu thảo với ông bà cha mẹ”. Cây có cội, nước có nguồn. Ăn trái nhớ kẻ trồng cây. Biết ơn và đền ơn là quy tắc đạo thờ ông bà tổ tiên dân tộc Việt Nam và người tu theo đạo Phật.

Thứ hai: Học để biết ơn thầy tổ. Thầy ở đây bao gồm thầy dạy chữ và dạy nghề nghiệp. Ngoài ra ta còn biết ơn thầy dạy về đạo đức luân lý sống trong xã hội. Trước tiên là học lễ phép, sau đó mới học chữ và học nghề chân chính.

Thứ ba: Học để biết ơn đất nước, ơn các vị lãnh đạo có công giúp cho mọi người ổn định về đời sống an sinh xã hội và biết ơn các anh hùng nghĩa tử.

Thứ tư: Học để biết ơn tất cả mọi người và muôn loài vật. Ta không làm ruộng nhưng vẫn có gạo ăn và cứ như thế có rất nhiều nhu cầu khác để giúp cho ta bảo tồn sự sống, chính vì vậy mà ta cần phải biết ơn muôn loài vật.

Thứ năm: Học để biết cách sinh tồn. Để được sinh tồn và cuộc sống có ý nghĩa, ta phải biết điều hòa sức khỏe, không lãng phí thời gian, luôn làm tròn trách nhiệm đối với gia đình người thân và đóng góp lợi ích xã hội.

Thứ sáu: Học để biết cách lắng nghe và nhận ra sai lầm về bản thân mình. Con người thường hay che dấu lỗi lầm của mình mà hay đổ lỗi cho người khác. Biết nhận lỗi và hứa sửa sai là người tốt trong hiện tại và mai sau.

Thứ bảy: Học sống chân thành bằng tình thương yêu chân thật. Thầy người khác làm việc tốt ta nên hoan hỷ vui theo, người giàu có thì bố thí vật chất, kẻ nghèo khó thì bố thì bằng lời nói an ủi, động viên giúp đỡ và hành động giúp người khi gặp hoạn nạn.

Thứ tám: Học để biết cách sống hòa hợp với mọi người. Làm người khó ai được hoàn hảo, chính vì vậy ta phải chấp nhận quan điểm của người này, người kia một chút thì cuộc sống sẽ được bình an hạnh phúc.

Thứ chín: Học để thấu hiểu mọi lẽ thật giả trong cuộc đời. Thiếu hiểu biết con người sẽ sinh ra tranh chấp, hơn thua, phải quấy, đúng sai mà dẫn đến oán giận thù hằn và tìm cách giết hai lẫn nhau.

Thứ mười: Học để biết cách buông xả mọi phiền não khổ đau. Cuộc đời giống như thay quần mặc áo. Khi cần dùng thì ta chăm sóc chu đáo, kỹ lưỡng đến khi chúng không còn giá trị nữa thì ta phải vứt bỏ đi. Thời gian sớm qua mau, mạng người sống trong hơi thở, ta phải biết tôn trọng bao dung và tha thứ để an nhiên tự tại trong mọi hoàn cảnh.


Thích Đạt Ma Phổ Giác

Hệ thống ẩn trong tượng Phật đá lớn nhất thế giới

Hệ thống ẩn trong tượng Phật đá lớn nhất thế giới

Đăng lúc: 09:24 - 16/07/2015

Bức tượng Lạc Sơn Đại Phật cao 71 mét ở Trung Quốc được xem là tượng đá lớn nhất thế giới, với hệ thống thoát nước ẩn trong người giúp tượng Phật tránh khỏi sự xói mòn nghiêm trọng và phong hóa suốt hàng thiên niên kỷ.

Tượng đá Lạc Sơn Đại Phật. Ảnh: Wikipedia
Nằm cách thành phố Thành Đô, Tứ Xuyên, Trung Quốc 160 km về phía nam, bức tượng Lạc Sơn Đại Phật hơn 1.300 tuổi được tạc vào núi Lăng Vân là tượng Phật làm bằng đá lớn nhất nhất thế giới.

Bức tượng đối diện núi Nga Mi ở phía đông thành phố Lạc Sơn. Đây là nơi giao nhau của ba con sông Mân Giang, Đại Độ và Thanh Y. Bức tượng tạc một tu sĩ đang mỉm cười, dáng ngồi bình thản, hai tay để trên đầu gối, mắt nhìn chăm chú qua sông.

Đây được cho là tượng Phật Di Lặc, đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Nin (người sáng lập của Phật giáo), tượng trưng cho sự sáng suốt và hạnh phúc. Việc tôn thờ Phật Di Lặc đặc biệt phổ biến giữa thế kỷ thứ 4 và thứ 7. Hiện nay, hình ảnh của Phật Di Lặc vẫn còn xuất hiện trong những ngôi chùa khắp Trung Quốc và nhiều quốc gia khác.

Sự hấp dẫn của tượng Phật không chỉ nằm ở kích thước mà còn thể hiện qua kiến trúc khéo léo. Toàn bộ bức tượng được làm từ đá, ngoại trừ phần tai làm từ gỗ phủ đất sét. Tóc của Phật là 1.021 vòng xoắn đá gắn vào đầu.

Mái tóc tượng Phật có 1.021 vòng xoắn. Ảnh: Chi King/Flickr
Chiều cao bức tượng bằng tòa nhà mười tầng (71 mét), phần đầu cao 15 mét, vai rộng 28 mét, lông mày dài 5,5 mét, mũi cao 6 mét, tai dài 7 mét có khả năng giữ hai người bên trong, mỗi bàn chân trần dài 11m, rộng 8,5m, đủ lớn cho hơn 100 người ngồi. Trong tư thế đứng thẳng, tượng Phật sẽ ngang bằng với tượng Nữ thần Tự do của Mỹ. Phật ngồi ở tư thế đối xứng, tạo ra cảm giác nhẹ nhàng, thoải mái.

Hệ thống thoát nước khéo léo

Dù có nhiều phần nhỏ bị hư hại nhưng đáng ngạc nhiên là bức tượng vẫn còn nguyên vẹn, nhờ vào hệ thống thoát nước ngầm, giúp các phần bên trong luôn khô ráo. Một số đoạn thoát nước ẩn trong tóc, cổ, và nhiều rãnh phía sau tai, ngực. Hệ thống này giúp tượng Phật tránh khỏi sự xói mòn nghiêm trọng và phong hóa suốt hàng thiên niên kỷ. Lúc đầu bức tượng được bảo vệ bởi 13 tầng gác làm bằng gỗ lớn, nhưng chúng đã bị phá hủy vào cuối triều đại nhà Minh, khiến bức tượng không còn được che chắn nữa.

Bức tượng Lạc Sơn Đại Phật được khởi công xây dựng vào năm 713 thời nhà Đường, do nhà sư Hải Thông người Trung Quốc chỉ huy. Ông hy vọng rằng tượng Phật có thể giúp làm cho nước sông chảy êm đềm, tạo thuận lợi cho tàu thuyền đi lại trên sông.

Theo truyền thuyết, một số quan chức chính quyền địa phương muốn lấy số tiền quyên góp xây tượng Phật từ Hải Thông, nhưng nhà sư này tuyên bố thà mù mắt chứ không chịu mất tiền.

Khi ngân khố dành cho công trình không còn, nhà sư đã tự khoét mắt để thể hiện sự chân thành và tận tâm vào công việc. Cuối cùng ông cũng gom đủ số tiền sau 20 năm đi quyên góp và tiết kiệm. Khi ông qua đời, hai đệ tử của ông tiếp tục cho xây dựng công trình và hoàn thành năm 803.

Kể từ khi xây xong tượng Phật, dòng nước sông hung dữ trở nên hiền hòa. Theo giải thích của các nhà khoa học, trong quá trình xây dựng, đá từ vách núi rơi xuống đáy sông, thay đổi dòng chảy, khiến con sông an toàn hơn. Nhờ đó tàu bè có thể yên tâm qua lại.

Nhà sư Hải Tông, người có công xây dựng tượng Lạc Sơn Đại Phật. Ảnh: David Schroeter/Flickr

Ngoài tượng Lạc Sơn Đại Phật, hàng nghìn tượng Phật nhỏ được người dân chạm khắc xung quanh bức tượng khổng lồ này, tạo thành một bảo tàng điêu khắc trên núi của Phật giáo.

Khu vực Nga My bao gồm bức tượng Lạc Sơn Đại Phật được UNESCO công nhận là Di sản thế giới vào năm 1996. Hiện nay, bức tượng Phật luôn là một trong những điểm đến hấp dẫn nhất của Trung Quốc.

Lê Hùng (vnexpress.net)

Srilanka : Tu sĩ Phật Giáo xuất bản truyện tranh chống hạt nhân

Srilanka : Tu sĩ Phật Giáo xuất bản truyện tranh chống hạt nhân

Đăng lúc: 17:52 - 03/07/2015

Sinh ra tại Srialanka, đất nước bị lôi kéo vào những cuộc xung đột kéo dài hàng thập kỷ, nhà sư Thalangalle Somasiri cảm thấy vô cùng xúc động sau khi đọc bộ truyện tranh Barefoot Gen của Nhật Bản, câu chuyện kể lại những hậu quả của vụ ném bom nguyên tử ở Hiroshima.
nha-su-pb

Các tu sĩ Phật giáo yêu hòa bình sẽ xuất bản hai tập đầu tiên trong bộ truyện tranh vào mùa xuân này, sau khi dịch chúng sang tiếng Shinhalese, một ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi tại Srilanka.

Tu sĩ Somasiri, 55 tuổi, hiện là trụ trì của một trong những ngôi chùa nổi tiếng nhất Srilanka, tên là Sama Maha Vihara, trong tiếng Nhật Bản thì đây có nghĩa là “ngôi chùa hòa bình”, tọa lạc tại ngoại ô thủ đô Colombo. Ông đến Nhật Bản vài lần mỗi năm, và tham gia vào công tác truyền bá Phật pháp cho kiều bào tại chùa Lankaji, thuộc quận Chiban gần sân bay quốc tế Narita.

Somasiri trở thành tu sĩ Phật giáo từ lúc 12 tuổi. Lần đầu tiên ông đến Nhật Bản là vào năm 1988, để học tập tại đại học Taisho ở Tokyo. Ông đã từng xuất bản sách giáo khoa và truyện cổ Nhật Bản tại quê hương Srilanka của mình. Somasiri cũng là thành viên của câu lạc bô sáng tác Nhật Bản, một tổ chức bao gồm những nhà văn yêu chuộng hòa bình và đấu tranh cho tự do ngôn luận.

Barefoot Gen được viết bởi tác giả Keiji Nakazawa, xoay quanh nhân vật chính là Gen, một nạn nhân của vụ đánh bom nguyên tử tại Hiroshima vào ngày 6 tháng 8 năm 1945. “ Tinh thần và nghị lực vươn lên trong cuộc sống của Gen dạy cho chúng ta những ý nghĩa về hòa bình và lòng dũng cảm”, tu sĩ Somasiri nói.

Xung đột tại Srilanka kéo dài 25 năm, hơn 70.000 người đã thiệt mạng, chùa của tu sĩ Somarisi trở thành nơi trú ẩn tạm thời của những trẻ em mồ côi do chiến tranh và một số nạn nhân của cuộc chiến này.

Xúc động trước ý nghĩa nhân văn của bộ truyện, Somarisi đã đến tham quan Bảo tàng tưởng niệm hòa bình tại Hiroshima vào mùa thu năm ngoái, cùng với những trải nghiệm sẵn có, ông quyết tâm xuất bản bộ truyện tranh này tại Srilanka.

Để tiến hành kế hoạch, ông thường thức dậy lúc hai giờ sáng để dịch truyện và tạm ngưng vào lúc 5 giờ sáng để thực hiện nghi thức công phu sáng. Vào cuối tháng ba, tu sĩ Somarisi đã giới thiệu ấn phẩm bằng tiếng Shihalese đầu tiên của bộ truyện tranh tại chùa Lankaji. Ông đặt mục tiêu sẽ xuất bản trọn bộ 10 tập của bộ truyện tranh trong vòng năm năm. Ông cũng có ý định chuyển ngữ truyện “ Nagasaki no Kane”, viết về những trải nghiệm của một bác sĩ là nạn nhân trong vụ đánh bom nguyên tử tại Nagasaki vào ngày 9 tháng 8 năm 1945.

“ Đây là nhiệm vụ của một người con Phật, giống như tôi, tôi làm điều này để mong ước hòa bình đến với tất cả mọi người”, tu sĩ Somarisi cho biết.

Theo Pháp Bảo

(Dịch từ Asahi Shimbun)

Ý nghĩa bốn chữ “cửu huyền thất tổ”

Ý nghĩa bốn chữ “cửu huyền thất tổ”

Đăng lúc: 08:31 - 02/07/2015

Ý nghĩa của bốn chữ Cửu Huyền Thất Tổ trên bàn thờ gia tiênTrên bàn thờ gia tiên của mỗi gia đình thường hay đặt một bài vị có ghi bốn chữ Cửu Huyền Thất Tổ. Vậy bốn chữ Cửu Huyền Thất Tổ này mang ý nghĩa gì trong văn hoá Việt Nam? bài viết sau đây của Hòa thượng Thích Giác Hoàng sẽ thích nghĩa cho chúng ta hiểu rõ được vấn đề này hơn.

Bàn thờ gia tiên

Câu hỏi của cư sĩ làm chúng tôi phải tra khảo lại các từ điển Phật học và Hán học, hơn thế nữa, chúng tôi còn nhờ Đại đức Thích Minh Nghị hiện đang du học tại Trung Hoa tra khảo giúp nơi các bộ từ điển lớn của Trung Hoa, nhưng cũng không thấy từ nguyên của bốn chữ này. Như chúng ta biết, phần lớn các thuật ngữ Hán Việt đều được người Việt tiếp thu thông qua các cuộc giao lưu văn hoá, tôn giáo Hán – Việt qua nhiều thời đại. Nhưng bốn chữ này, chúng tôi nghĩ là do các nhà sư Việt Nam sáng tạo, không hề chịu ảnh hưởng văn hoá của Phật giáo Trung Quốc hoặc Ấn Độ.

Không biết bốn chữ này được xuất hiện trong văn bản nào sớm nhất, nhưng theo chỗ chúng tôi biết, bốn chữ này xuất hiện trong tác phẩm Sự Lý Dung Thông viết bằng thể thơ song thất lục bát của Thiền sư Hương Hải (1728 – 1715) được Tiến sĩ Lê Mạnh Thát đã dày công biên khảo và dịch lại, cho in chung trong Toàn Tập Minh Châu Hương Hải (Nhà xuất bản Tp.HCM, 2000). Phía sau cuốn sách có in toàn bộ tác phẩm và ngữ lục của Thiền sư bằng chữ Hán. Tác phẩm Sự Lý Dung Thông (trang 416) cũng nằm trong phần phụ lục này, có đề cập đến bốn chữ này trong hai câu thơ:
“Thích độ nhân miễn tam đồ khổ
Thoát cửu huyền thất tổ siêu phương”
(Ðại ý là giáo lý đức Phật Thích Ca hoá độ chúng sinh để thoát khỏi ba đường khổ: địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh, và có khả năng cứu thoát cửu huyền và thất tổ được siêu thăng).
Có lẽ vì câu trên quá cô đọng nên bản Việt ngữ của Tiến sĩ Lê Mạnh Thát (trang 392), vẫn giữ nguyên như vậy, và phần dưới có chú thích ngắn gọn về bốn chữ “cửu huyền thất tổ” như sau:
“Cửu huyền: Chín đời: Cao, tằng, tổ, cha, mình, con, cháu, chắt, chít. Thất tổ: Bảy đời: Cao, tằng, tổ, cao cao, tằng tằng, tổ tổ, cao tổ”
Mặc dầu trong các từ điển, chúng tôi không thấy có chữ “huyền” nào có nghĩa là “đời” cả, nhưng qua quá trình Việt Hoá, chữ này được hiểu như là “đời”, và có lẽ nên dịch là “thế hệ” thì chính xác hơn.
Chín thế hệ trên, nếu phiên âm bằng chữ Hán thì được viết như sau: Cao – Tằng – Tổ – Khảo – Kỷ – Tử – Tôn – Tằng – Huyền. Như vậy, nếu lấy thế hệ mình làm chính thì tính ngược lên bốn đời và tính xuống bốn đời thành ra chín đời.
Một vị Hoà thượng mà người viết có duyên học hỏi đã giải thích rằng, sở dĩ gọi chữ “Huyền” ở đây vì chữ “Huyền” trong “cửu huyền” này vốn có nghĩa là “đen”, vô lượng kiếp chúng sanh luân hồi sống chết, khi thân xác này rã rời, phân ly, trả về cho tứ đại, những chất tinh tuỷ xương máu và thịt tan rã, huỷ hoại đều biến thành màu đen nên gọi là “huyền”. Bởi chín thế hệ vần xoay, sống chết như vậy nên gọi là “cửu huyền”.
Thất Tổ: Là bảy ông tổ. Tổ là ông nội của đời mình; đi ngược lên sáu đời nữa gọi là thất tổ.
Như vậy, chữ “cửu huyền” bao quát hơn chữ “thất tổ”. Vì “thất tổ” chỉ cho các thế hệ đi trước, còn “cửu huyền” không những chỉ cho bốn thế hệ trước mà còn nhắc đến bốn thế hệ sau nữa. Chính vì vậy, nơi thờ phụng những vị quá vãng còn được gọi là “Nhà Thờ Cửu Huyền” (viết bằng tiếng Việt), thỉnh thoảng dùng bốn chữ “Cửu Huyền thất Tổ” (viết bằng chữ Hán). Quý Tăng Ni miền Nam và miền Bắc cũng dùng cụm từ này để chỉ cho nơi thờ ông bà, cha mẹ mình nhiều đời, nhưng không phổ biến rộng rãi, các vị thường dùng từ “hương linh” chỉ người đã khuất, và nơi thờ các hương linh ấy được gọi là “bàn linh”. Các tịnh xá thuộc hệ phái Khất Sĩ dùng từ “Cửu Huyền” hoặc cả “Cửu Huyền Thất Tổ” chỉ cho nơi thờ những người đã quá vãng.

“Cửu Huyền thất Tổ” trong nền văn hoá Việt Nam
Theo cách nhìn tổng quát, văn hóa có hai phần đặc trưng, đó là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Nền văn hóa vật chất bao gồm các lĩnh vực thuộc khoa học kỹ thuật. Văn hóa tinh thần bao gồm các lĩnh vực thuộc học thuật, tư tưởng, tôn giáo và các loại hình giải trí, nghệ thuật
Cách biểu hiện lòng tôn trọng, nhớ ơn và biết ơn ông bà cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp qua việc thờ cúng của người Việt Nam thuộc loại hình văn hoá tinh thần. Cách tôn kính, thờ cúng này không phải ở Việt Nam mới có, mà từ thuở nhà Hạ (2183-1752 trước TL), Thương/ Ân (1751-1112 trước TL), Chu (1111? – 249 trước TL) bên Trung Hoa cũng đã có nghi lễ thờ cúng ông bà tổ tiên rồi. Các vua chúa thường đi tế Giao (cúng trời đất) ở một nơi được xem là linh thiêng, hoặc cúng tổ tiên trong Thái Miếu. Nền văn hoá Việt Nam thời cổ và trung đại cũng vậy. Các vua chúa thường đi cúng tế nơi Thái Miếu, nơi đền thờ các vị khai quốc công thần. Còn người dân dã thì thường thờ ông bà cha mẹ tại nhà và làm lễ cúng giỗ hàng năm.
Điều đáng nói ở đây, là nền văn hoá tinh thần nầy đã được duy trì, phát huy và thấm sâu vào lòng dân tộc Việt Nam dù trải bao biến thiên lịch sử. Không phải đất nước nào cũng duy trì được nền văn hoá quý báu này. Trung Hoa, một trong 3 cái nôi văn minh nhân loại thời cổ, đến khi Cách Mạng Tân Hợi năm 1911 thì nền văn hoá tinh thần bị hạ bệ, nhất là giai đoạn “Cách Mạng Văn Hoá” thì tinh thần “ăn trái nhớ kẻ trồng cây”, “uống nước nhớ người đào giếng” hoàn toàn bị xoá sổ, mà thay vào đó là nền văn hoá của “Mao Chủ tịch”.
Ðại đức Minh Nghị đang du học bên Trung Hoa kể cho chúng tôi nghe, khắp đại lục Trung Hoa không có được một nhà có bàn thờ ông bà cha mẹ của mình. Vào nhà chỉ thấy hình của bác Mao Trạch Đông thôi! Các chùa chiền thì không thấy có nhà thờ “Cửu Huyền Thất Tổ” hoặc “Vãng Sinh Ðường”, thậm chí một số chùa chiền cũng không thấy có nhà thờ Tổ (Tổ đường). Khái niệm “thờ cúng” ông bà cha mẹ gần như bị lãng quên và họ còn cho đó là một nghi thức “cổ lổ xỉ”. Họ cho rằng “thờ cúng” là một hình thức mê tín dị đoan, nên đã cực lực loại bỏ! Thế là cả một nền văn hoá “Ẩm thuỷ tư nguyên” (uống nước nhớ nguồn) tốt đẹp mấy ngàn năm, một truyền thống hiếu thảo “phụ hề sanh ngã, mẫu hề cúc ngã, ai ai phụ mẫu, sanh ngã cù lao, dục báo thâm ân, hiệu thiên võng cực” (Kinh Thi)[1] đã từng làm xúc động bao con tim của bao thế hệ, nay không còn duy trì nữa. Thật buồn thay cho một nền văn hoá có bề dày nhất nhì trong lịch sử văn minh nhân loại, và cũng là một nền văn hoá được đánh giá là tôn trọng chữ hiếu bậc nhất trong lịch sử nhân loại, thế mà ngày nay lại thiếu vắng tinh thần tri ân và báo ân!
May mắn thay, văn hoá Việt Nam, dù trải bao thăng trầm lịch sử, nhưng đạo lý: “Sang đò nhớ ơn người chèo chống, nằm võng nhớ ơn người mắc dây” vẫn được khắc sâu trong tâm khảm người Việt, vẫn ấm áp trong tiếng hát hời ru con muôn thuở:
“Nước chảy ra thương cha nhớ mẹ
Nước chảy vào thương mẹ nhớ cha”.

Thích Giác Hoàng

Sakyadhita: Chư Ni PG Việt Nam tham gia diễn thuyết

Sakyadhita: Chư Ni PG Việt Nam tham gia diễn thuyết

Đăng lúc: 08:07 - 01/07/2015

Hội nghị Sakyadhita lần thứ 14 năm nay được tổ chức tại Yogyakarta, Indonesia từ ngày 23-6 đến 30-6-2015 với chủ đề "Từ bi, công bằng và xã hội" có tổng cộng 58 bài tham luận của 58 diễn giả đến từ 40 quốc gia: Mỹ, Anh, Úc, Đức, Malaysia, Indonesia, Butan,Tây Tạng, Indonesia,Đài Loan,Hong kong, Hàn Quốc và Việt Nam...


ANH SAKYA (2).jpg
Chư Ni Phật giáo Việt Nam tại Sakyadhita
Những tham luận khẳng định và nhằm tôn vinh sự đóng góp của Nữ giới Phật giáo trong đời sống xã hội và tâm linh của cộng đồng trên khắp thế giới. Hội nghị bao gồm các buổi tọa thiền, thảo luận phiên, tham quan…

Hội nghị lần này cũng nhấn mạnh những thành tựu của nữ tu sĩ và cư sĩ Phật giáo vì cuộc đấu tranh về nhân quyền và bình đẳng giới...
Tham gia diễn thuyết tại Hội nghị nữ giới Phật giáo thế giới lần này với 3 bài tham luận rất đặc sắc được tôn vinh tại Hội nghị: “Nữ giới phật giáo indonesia: Sự đa dạng và công bằng xã hội” của diễn giả Karma Lekshe Tsomo; “Một số thách thức đối với các nữ tu ngoài vùng Himalaya theo truyền thống Phật giáo tây tạng” của Jetsunma Tenzin Palmo và "Từ bi và dấn thân xã hội: Những mô hình tương hỗ cho nữ giới Việt Nam" của diễn giả Thích nữ Như Nguyệt được đánh giá cao tại Hội nghị.
Bài thuyết trình của SC.Thích nữ Như Nguyệt nêu chân dung của NS.Thích nữ Huệ Tuyến, trụ trì chùa Lâm Quang, quận 8, TP.HCM dấn thân nuôi dưỡng người già neo đơn tại trú xứ với mô hình từ thiện xã hội tiêu biểu tại nơi tu tập ở Việt Nam.
ANH SAKYA (6).jpg
NS.Thích nữ Huệ Tuyến và SC.Thích nữ Như Nguyệt
được Ni sư Karma Lekshe Tsomo tuyên dương vì bài tham luận xuất sắc
ANH SAKYA (5).jpg
SC.Thích nữ Huệ Tuyến được Hội nghị tôn vinh vì có mô hình hay

ANH SAKYA (3).jpg
Chư Ni Việt Nam tại Hội nghị Sakyadhita tại Indonesia
ANH SAKYA (1).jpg
Chư Ni Việt Nam tham gia các chương trình thảo luận
Như Nguyệt (từ Indonesia)

Hoa Kỳ: Phật tử Campuchia vui mừng đón nhận ngôi chùa mới tại Utah

Hoa Kỳ: Phật tử Campuchia vui mừng đón nhận ngôi chùa mới tại Utah

Đăng lúc: 07:34 - 23/06/2015

Cuối tuần qua, khoảng 60 nhà sư từ khắp nơi trên thế giới đã có mặt tại bang Utah để chúc mọi điều an lành cho ngôi chùa Phật giáo Campuchia mới nhất và duy nhất tại tiểu bang này. Đó là một nghi lễ mà hầu hết các Phật tử hiếm khi được chứng kiến, vì những ngôi chùa mới đặc biệt tại Mỹ, hiếm khi được xây dựng và trụ vững đến hơn một thế kỷ.

Hoa-ky-phap-bao

Bên ngoài ngôi chùa Wat Buddhikaram

bai 113-2

Hơn 60 nhà sư từ khắp nơi trên thế giới đã về dự lễ khánh thành chùa Wat Buddhikaram

pb

Các Phật tử cầu nguyện trong buổi lễ

“Đây là một dịp đặc biệt đối với người dân địa phương”, trưởng ban trị sự chùa Wat Buddhikaram cho biết. Hơn 30 năm qua, giáo đoàn địa phương bao gồm khoảng 300 gia đình đã sử dụng một nhà để xe cũ để làm nơi thờ phượng và sinh hoạt tâm linh. Tuy nhiên, cộng đồng Phật tử Campuchia tại địa phương lại mong muốn có một ngôi chùa thật khang trang. Họ đã thực hiện các chiến dịch quyên góp, vận động các mối quan hệ, thời gian và công sức của mình để xây dựng được một ngôi chùa mới rộng hơn 1000 mét vuông dành cho các thế hệ Phật tử sau này tại Utah.

Một nhà sư Campuchia đến từ California cho biết: “Một ngôi chùa Campuchia tại Hoa Kỳ là rất cần thiết cho việc bảo tồn Phật giáo và các nền văn hóa tại đây”. Sau ba ngày của các nghi lễ tôn giáo, vào ngày thứ sáu, ngôi chùa sẽ chính thức đón nhận các nhà sư địa phương đến tu tập. Các nhà sư sống trong những ngôi nhà nhỏ giờ đây đã có thể yên tâm trì kinh và cầu nguyện trong một ngôi chùa khang trang.

Một thành viên trong cộng đồng Phật tử địa phương rất vui mừng và hy vọng ngôi chùa mới này sẽ nơi cho thanh niên tìm hiểu chi tiết hơn về Phật giáo cũng như tạo điều kiện để họ tỏ lòng tôn kính với các nhà sư. Ông cũng cho biết thêm “Tôi cảm thấy cộng đồng chúng tôi ở bên nhau ngay bây giờ, giữa chúng tôi có một sự liên kết rất mạnh mẽ. Đây cũng là lần đầu tiên tôi được tham dự lễ khánh thành một ngôi chùa trong vòng 55 năm qua”. Một linh mục tại địa phương tham dự lễ khánh thành, cũng bày tỏ lòng tôn kính của mình với Phật giáo, vì theo ông Phật giáo đem đến cho mọi người cái nhìn trung thực và thực tế về cuộc sống, cái chết.

Một vài sợi vải được quấn quanh ngôi chùa và trên trần của điện thờ chính. Đây được xem như một nghi thức tâm linh để “lưu giữ” lại những lời chúc của các vị sư dành cho ngôi chùa.



Theo Pháp Bảo

Cờ ngũ sắc Phật giáo lần đầu tiên treo ở trong White House của Hoa Ky‏

Cờ ngũ sắc Phật giáo lần đầu tiên treo ở trong White House của Hoa Ky‏

Đăng lúc: 15:35 - 21/06/2015

Lá cờ Phật giáo Thế giới được giương cao lên ở bất cứ nơi nào, chứng tỏ rằng ở đó chánh pháp được phát huy và con người thấm nhuần trong giáo lý giải thoát, giác ngộ của đạo Phật vậy.



Buổi chiều ngày 14/05/2015 tại Tòa Bạch Ốc, các nhà lãnh đạo Phật giáo bao gồm Chư tôn đức Tăng già, các nhà nghiên cứu và giảng dạy Phật học, các nhà hoạt động Phật giáo thuộc đa dạng các truyền thống, từ Phật giáo châu Á đến châu Mỹ.
Hàng trăm nhà lãnh đạo từ các cộng đồng Phật giáo tham dự Hội nghị Phật giáo thế giới tại Đại học George, Washington Hoa Kỳ (14/05/2015).

Tại đây, lần đầu tiên cờ ngũ sắc Phật giáo được treo trong Nhà Trắng, Hoa Kỳ. Lá cờ Phật Giáo là biểu tượng của Phật giáo qua sự hiện hữu của Đạo Phật trong cuộc đời này. Cờ Phật giáo do Đại tá Henry Steel Olcott (1832 – 1907), người Hoa Kỳ, theo học Phật pháp cùng với Thượng tọa H. Sumangala, người Tích Lan, đã phỏng theo sáu màu hào quang của Đức Phật : xanh, vàng, đỏ, trắng, cam và màu tổng hợp của năm màu vừa kể để phác họa vào năm 1889.

Ngoài ý nghĩa tinh thần ra, màu cờ Phật Giáo còn tiêu biểu cho màu da, chủng tộc của các sắc dân, không phân biệt da vàng, da đen, da trắng, da đỏ v.v... Mà tất cả con người trên thế giới đều là anh em với nhau cùng tôn thờ lý tưởng Phật Giáo để cùng nhau bắt tay xây dựng và phát triển ngôi nhà chánh pháp của Đức Như Lai.





Lá cờ Phật giáo Thế giới được giương cao lên ở bất cứ nơi nào, chứng tỏ rằng ở đó chánh pháp được phát huy và con người thấm nhuần trong giáo lý giải thoát, giác ngộ của đạo Phật vậy.

Lá cờ ngũ sắc được treo trong Nhà Trắng đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của Phật giáo trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Với sự tụ hội của các lãnh đạo Phật giáo thế giới, cùng chia sẻ các mối quan ngại xã hội đã cho thấy người theo Phật giáo không phải “động thổ” những vùng đất mới mà là tiếp tục và duy trì sự quay về với đức Phật - Người đã du hóa vùng đông bắc Ấn Độ nhằm thiết lập và xây dựng đời sống con người từ sự dẫn bước soi đường của Chính pháp, trong ánh đạo vàng Từ bi Trí tuệ, từ giới vương tôn quý tộc cho đến người dân bình thường. Phật giáo không hướng đến việc áp đặt niềm tin tôn giáo lên giới chức lãnh đạo nhưng đi vào hướng tiếp cận rằng các chính sách lãnh đạo phải được xây dựng và thực hiện trên nền tảng của tình thương, lòng từ bi, công bằng xã hội, hòa bình và có trách nhiệm với môi sinh - vốn là giá trị cốt lõi nhất của Phật giáo và các giá trị tôn giáo chân chính trên thế giới.





Đưa các giá trị của Phật giáo vào đời sống là sự chung tay cùng các tổ chức có cùng chí hướng, sẽ giúp chia sẻ và hợp tác để hướng đến công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sống, giảm sức mạnh chưa chính nghĩa của quân đội và cao nhất là xây dựng một thế giới hòa bình.



Phap Bao va Pv Anh Thy

An tâm như thế nào?

An tâm như thế nào?

Đăng lúc: 08:28 - 20/06/2015

Trong Thiền tông có một câu chuyện đối thoại giữa Tổ Bồ Đề Đạt Ma và đệ tử thiền sư Huệ Khả.



Thiền sư Huệ Khả cảm thấy trong tâm có rất nhiều vấn đề, nên muốn Tổ giúp đỡ mình an tâm. Vì thế, Tổ hỏi Thiền sư: “Tâm con ở đâu? Con hãy đem tâm bất an ra cho thầy xem thử!”. Kết quả, Thiền sư không tìm được tâm mình. Lúc đó, Tổ Bồ Đề Đạt Ma bảo: “Thầy đã an tâm cho con rồi”.

Nguyên nhân nội tâm con người bất an, rốt cuộc là không phải ở bên ngoài mà do tâm ganh tỵ, tâm lo lắng, tâm sân hận, tâm tức giận, tâm tham... gây mâu thuẫn xung đột. Sự xung đột này bao gồm giữa mình với mình, hoặc mình với người khác, có thể là thật mà cũng có thể là tưởng tượng.

Như tâm ganh tỵ, có lúc chúng ta nhìn thấy người khác thành công, trong tâm rất khó chịu. Đúng ra, người khác thể hiện sự thành công, chúng ta phải vui mừng, khen ngợi, chia vui cùng họ; vả lại, sự thành công của họ làm cho chúng ta được thơm lây, thậm chí có cơ hội học theo. Thay vì ganh tỵ với người khác, chi bằng tìm hiểu nguyên nhân nào họ có thể thành công; đồng thời, hãy xem xét lại mình làm thế nào mới có thể tài giỏi giống như họ. Nhưng có lúc người khác làm được mà chúng ta cố gắng hết sức mình vẫn không làm được; lúc đó, chúng ta hãy nghĩ lại nhân duyên, phước báo của mình chưa đủ, cần phải nỗ lực thêm. Sau đó, cố gắng vun trồng nhân duyên, phước đức thì tất nhiên sẽ thành tựu.

Sở dĩ, người khác được thành công là vì họ phải trải qua nỗ lực vất vả; cho dù trong đời này họ không cực nhọc, nhưng đời quá khứ họ cũng từng tích lũy. Có người nhìn thấy người khác giàu sang, có địa vị danh vọng cảm thấy không khâm phục, cho rằng mình suốt đời làm lụng cực khổ mà vẫn thiếu trước hụt sau, cũng không có hạnh phúc. Lúc đó, chúng ta hãy nghĩ lại, người khác được giàu sang, hạnh phúc là kết quả từ đời quá khứ đã nỗ lực tu tập, chúng ta không ngưỡng mộ họ, cũng không nên ganh tỵ.

Ngoài ra, tâm tham cũng là nguyên nhân làm cho tâm con người bất an, người sống biết đủ không gọi là tham, người không biết đủ luôn tìm cầu gọi là tham. Người tham không biết chán là điều rất đau khổ, thật ra người biết đủ tất sẽ được đầy đủ. Chúng ta không cần suy nghĩ tìm mọi cách để đi tranh giành với người khác, chỉ cần nỗ lực làm việc thì tất nhiên sẽ được đơm hoa kết trái. Nếu như thành quả chưa xuất hiện là chứng tỏ nhân duyên chưa thành thục, chúng ta cũng không nên buồn vì việc này. Nếu suy nghĩ như thế sẽ tiêu trừ nhân tham sinh ra đau khổ.

Trên thực tế, tâm bất an chủ yếu là tự mình làm khổ mình, tự chuốc phiền não. Khi chúng ta cảm thấy bất an, trước phải hiểu rõ vì sao mình bất an? Sau khi tìm hiểu nguyên nhân thì thấy rất nhiều phiền não mà chúng ta cũng không cần bận tâm. Như chúng ta đi thi, sau khi thi xong, có người hàng ngày trông chờ kết quả, trong tâm lúc nào cũng hồi hộp lo lắng, không biết mình có thi đậu không? Thi đậu rồi học ở đâu? Nếu như lúc đó chúng ta suy nghĩ: “Dù sao mình cũng đã thi xong, có lo lắng như thế cũng chẳng giải quyết được gì; còn sau khi đậu học ở đâu, đến lúc đó sẽ tính, hiện tại có lo lắng cũng vô ích, cần gì tự mình chuốc lấy phiền não?”. Nếu nghĩ như thế thì tâm an liền, cảm thấy mình suy nghĩ lung tung thật vô duyên.

Cho nên, khi tâm chúng ta bất an thì hãy nghĩ lại, tự hỏi mình nguyên nhân bất an là gì? Do mình suy nghĩ quá nhiều, thực ra chẳng có việc gì đáng làm cho chúng ta phiền não và buồn rầu. Khi phản tỉnh như thế thì tâm chúng ta sẽ an ổn.

Ngoài ra, khi bất an, cũng có thể niệm danh hiệu Phật A Di Đà, hay Bồ-tát Quán Thế Âm. Nếu chuyên tâm niệm Phật, sẽ không còn nghĩ những vấn đề phiền não, tất nhiên từ từ tâm sẽ an lạc.

HT. Thánh Nghiêm

grab14345062184 Copy 298568082

Nepal: đang khắc phục Chùa Tháp Swayambhunath sau trận động đất

Đăng lúc: 06:21 - 18/06/2015

Một trong những ngôi Cổ tự và Bảo tháp được tôn kính và linh thiêng nhất ở Nepal đã bị thiệt hại trong trận động đất kinh hoàng vừa qua. Những nhà Bảo tồn hy vọng sẽ khắc phục Bảo Tháp trước mùa mưa.
Chùa Tháp Swayambhunath còn được gọi là chùa Khỉ (bởi nơi đây có nhiều khỉ cư trú, đặc biệt là ban đêm), ngôi Cổ tự tọa lạc trên một ngọn đồi được bao phủ bởi rặng cây xanh ở phía Tây thung lũng Kathmandu, nơi thu hút du khách thập phương hành hương trãi qua 1.400 năm qua. Đỉnh Bảo Tháp cao vút với sắc huỳnh kim lấp lánh và mái vòm màu trắng vươn lên trên ngọn đồi, hòa lẫn bầu trời mây bay bãng lãng, từ xa xa đã dễ dàng nhìn thấy.

Chùa Tháp Swayambhunath được UNESCO công nhận là Di sản thế giới vào năm 1979.

Ông Christian Manhart, giám đốc UNESCO tại Kathmandu, chia sẻ rằng: “Bảo Tháp Swayambhunath đã bị ảnh hưởng trong trận động đất kinh hoàng vừa qua. Chúng ta phải khẩn trương khắc phục những vết của Bảo Tháp trước mùa mưa”.

Dân Nepal và người nước ngoài cùng làm công việc dọn dẹp các mảnh vỡ của Thánh tích này sau trọng động đất vào ngày 25/04/2015 đã cướp đi hơn 8.500 người, bị thương 23.000 người và hàng trăm nghìn người vô gia cư, đang lâm vào cảnh màn trời chiếu đất.

Các trận động đất kinh hoàng đã tàn phá các di sản cổ xưa của Nepal, đây là trung tâm ảnh hưởng đến cuộc sống hằng ngày của nhiều người dân địa phương, bởi Thánh tích này là một hấp dẫn lớn đối với khách du lịch, một nơi thu ngoại tệ, góp ngân sách cho địa phương.

Theo tài liệu của UNESCO, hơn 30 di tích trong thung lũng Kathmandu đã bị thiệt hại trong trận động đất, và đã phát hiện thêm 120 di tích khác bị một phần thiệt hại.

Ông Christian Manhart, Giám đốc UNESCO tại Kathmandu và đồng nghiệp ước tính sẽ mất ít nhất $ 160,000,000 để sửa chữa và khôi phục 1.000 di tích bị hư hỏng, và bị phá hủy bao gồm Tu viện, Đền miếu công trình văn hóa lịch sử trên khắp cả nước. Đối với quốc gia đa Tôn giáo sắc tộc này, việc phục dựng lại là một ưu tiên đặc biệt.

Ông David Andolfatto, Nhà khảo cổ học và sử học nghệ thuật, một chuyên gia tư vấn của UNESCO, cho biết: “Chúng tôi đang kiểm kê các di tích di sản làm từ đá, đất nung và cất giữ tạm trong ngôi Cổ Tự. Mối quan tâm hàng đầu của chúng tôi hiện nay là ngăn chặn để chúng không bị cướp đi.

Bình nhật mỗi buổi sáng cư dân địa phương và du khách hành hương đi nhiễu quanh Đại bảo tháp Swayambhu, nhưng bây giờ họ không thể đến Thánh tích này được bởi không an toàn”.

Sau trận động đất, Ông David Andolfatto vội vã ra đường, nhảy vọt lên xe đạp của mình để đi kiểm tra Bảo tháp Swayambhu, nằm ở phía tây của thành phố Kathmandu. Ông đã dành thời gian quý báu của mình cho việc bảo vệ Thánh tích này cho đến hôm nay.

Cùng với việc khắc phục sửa chữa các vết nứt của Bảo Tháp, Ông là người nỗ lực giám sát những bích họa có nguy cơ mất dạng tại một ngôi Cổ tự nhỏ có tên là Shantipur. Điều này đòi hỏi sự phối hợp cẩn thận với chư tôn đức Phật giáo địa phương, và chỉ có các vị Giáo phẩm Phật giáo mới hiểu rõ được những chi tiết nơi tôn nghiêm bên trong ngôi Cổ tự nhỏ này.

Ông Christian Manhart, giám đốc UNESCO tại Kathmandu nói: “Trong trận động đất kinh hoàng vừa qua, tại Trung tâm Thủ đô, Bảo tàng Hanuman Dhoka Palace cũng chịu chung số phận trong tình trạng thảm khốc. Các bức tường và mái nhà bị rã tan.

Quân đội và các công nhân đang bảo vệ các địa điểm di tích, họ đang củng cố các bức tường và việc tìm kiếm các bộ phận khác của để bảo vệ trước khi cơn mưa đến.

Theo UNESCO đánh giá thiệt hại của trận động đất được tập trung ở thung lũng Kathmandu, một vị trí đặc biệt trong lịch sử Nam Á. Trong khi Phật giáo Ấn Độ phần lớn bị biến mất vào khoảng thế kỷ 12, nhưng Phật giáo tại Kathmandu vẫn phát triển mạnh (Năm 1178, quân đội Hồi giáo của Muhammad Ghuri đã tiến hành nhiều cuộc chinh phạt Ấn Độ. Hầu hết các công trình Phật giáo đã dần dà bị tiêu hủy. Vào năm 1197, trung tâm Phật giáo Nālandā bị hủy diệt hoàn toàn, kể cả các tăng sĩ. Vikramaśīla cũng bị chiếm năm 1203, chấm dứt hoàn toàn một thời đại lịch sử của Phật giáo tại Ấn Độ). Chúng tôi đã nghiên cứu lịch sử Phật giáo và Ấn Độ giáo tuyệt vời.

Ví dụ, một số Tự viện Phật giáo có khả năng phát triển ở đó và lan rộng khắp châu Á, những truyền thống này vẫn sôi động cho đến khi trận động đất rung chuyển đã lật đổ hàng chục công trình.

Hằng ngày mọi người đến các Tự viện Phật giáo để chiêm bái, sinh hoạt Tín ngưỡng Chánh tín, thưởng thức nghệ thuật kiến trúc, một tách Trà đạo, màu xanh biếc của những ngọn đồi núi xum xuê hùng vĩ. . .

UNESCO và Bộ Văn hóa Nepal đang tập trung vào việc củng cố di tích bị hư hỏng và có nguy cơ sụp đổ trong mùa mưa sắp tới, mưa kéo dài suốt mùa hè. Sau đó, họ sẽ chuyển sang phục hồi cấu trúc sụp đổ, kể cả nhà lịch sử.

Có những bản vẽ kiến trúc rộng lớn, cung cấp một cơ sở vững chắc để xây dựng lại. May mắn thay, hiện số tài chính quyên góp lên đến 400.000 USD và tổng cộng $ 2.000.000 từ các quốc gia Sri Lanka, Đức, Áo, Nhật Bản, Hàn Quốc và một số nước khác”.

Theo chuyên gia Andolfatto tự tin rằng: “Người Nepal sẽ vượt qua những bi kịch và phục hồi di tích lịch sử văn hóa Tôn giáo một cách nhanh chóng bởi nhu cầu tối cần thiết bởi yếu tố tâm linh và về tinh thần dân tộc của họ”.















Thích Vân Phong(Theo Geographic. Ảnh: Niranjan Shrestha)

grab1433733238Bhanwarlal Raghunath Doshi 550x339 95e3a

Tỉ phú Ấn Độ bỏ hết tài sản đi tu

Đăng lúc: 06:37 - 14/06/2015

Doanh nhân Ấn Độ Bhanwarlal Raghunath Doshi đã trở thành hiện tượng gây nóng các mặt báo khi công khai từ bỏ hết tài sản trị giá hàng trăm triệu đô la để trở thành nhà sư.
Ông “vua nhựa” của Delhi đã từ bỏ đế chế trị giá 600 crore (100 triệu đô la Mỹ) của mình trong một buổi lễ diễn ra hôm Chủ nhật, để trở thành đệ tử thứ 108 của Jain guru Shri Gunratna Surishwarji Maharaj.

Tỉ phú Ấn Độ bỏ hết tài sản đi tu

Quyết định của Doshi không hề bồng bột nhất thời. Những bài giảng của Jain đã lôi kéo được tâm hồn Doshi từ năm 1982, nhưng gia đình bao gồm vợ, hai con trai và con gái luôn là lý do khiến Doshi lưỡng lự. Cuối cùng vào năm ngoái, cả gia đình đã nhất trí để cho Doshi hoàn thành giấc mơ cả đời mình – được trở thành một nhà sư.

Tỉ phú Ấn Độ bỏ hết tài sản đi tu

Doshi xuất thân là người Rajasthan, từ chối tham gia vào công việc kinh doanh ngành dệt của cha năm 1970. Thay vào đó, ông mượn 30.000 rupee từ cha để khởi nghiệp kinh doanh nhựa ở Delhi. Và sau 40 năm phát triển, thành công, sống cuộc sống xa hoa, Doshi quyết định từ bỏ tất cả để sống khổ hạnh – mặc quần áo giản dị, đi chân đất và xuống tóc.

Nghi lễ công nhận Doshi trở thành một nhà sư được diễn ra vô vùng tráng lệ tại quảng trường rộng 1 triệu mét vuông ở Ahmedabad, Gujarat.

Huyền Anh
(Dịch từ Oddity)

 
Hạnh nguyện cấp cô độc
Gia đình vườn tuệ
Thống kê
  • Đang truy cập 45
  • Hôm nay 2,642
  • Tháng hiện tại 106,912
  • Tổng lượt truy cập 17,777,251